TÌM HIỂU TỪ-NGỮ GỐC “HÁN”

TÌM HIỂU TỪ-NGỮ GỐC “HÁN”

Tran Ngoc Dung
TIỂU SỨ
Gs Trần Ngọc Dụng

Diễn giả, Trần Ngọc Dụng, sinh trưởng tại Quảng Nam miền Trung Việt Nam,từng làm trưởng ban dịch thuật và phụ tá đặc trách thông tin cho Cơ Quan Thông Tin Liên Vụ Hoa Kỳ (JUSPAO) tại Quảng Trị (1964-1969), cựu sinh viên văn khoa và luật khoa Đại học Saigon, giảng viên trường Sinh Ngữ Quân Đội và trường Quân Y (1971-1975), và giảng viên tại Đại Học Tổng Hợp (1980-91). Tại Hoa Kỳ tác giả từng dạy tiếng Việt tại UCLA, UCI, và UCR (2002-2005) và tiếng Anh sinh ngữ hai tại School of Continuing Education, Fullerton và Lincoln Education Center, Garden Grove (1997- 2008). Hiện nay, tác giả đang dạy tiếng Việt tại Coastline Community College và Santa Ana College từ 2000 đến nay. đồng thời là trưởng ban dịch thuật tiếng Việt tại Khu Học Chánh Garden Grove từ 2009, trưởng khối huấn luyện của Ban Đại Diện các Trung Tâm Việt ngữ (từ 2015), từng là chuyên viên duyệt đề thi cho viện ngôn ngữ Defense Language Institute của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, Monterey, và là cộng tác viên của National Resources Center for Asian Languages của California State University, Fullerton. Năm 2017 tác giả được nhận Giải Thưởng Award of Distinction do Sở Giáo Dục Orange County trao tặng.
Dịch thuật và sáng tác ’Translation and authorship’:
TRANSLATED
I.- English to Vietnamese
1. A Linguistic Guide to Language Learning by G. W. Morton; 1972,
2. New English 900 Series, 1984,
3. Follow Me to Britain Series, 1984;
4. Follow Me To San Francisco, 1985;
5. A Death in November by Ellen J. Hammer, 1991,
6. Kennedy and Vietnam War by John M. Newman, 1992;
7. Book of the Death by W. Y. Darjeeling, 1993;
8. In Retrospect by Robert S. McNamara, 1995;
9. The Private Life of Mao Tse Tung by Dr. Li Zhisui, 1995;
10. Foundation of Tibetan Mysticism by Anagorika Lavinda, 1995;
11. John Paul II by Tad Szulc 1995;
12. A Soldier Reports by William Westmoreland, 1996;
13. The Collapse of South Vietnam by Cao Van Vien, 1996;
14. How to Sell Yourself by Joe Girard, 1997
15. Land Reform an anonymous author about the Land Reform in North VN during the 1965-56, 1999
II – Vietnamese to English
1. Kiến Vàng ‘The Yellow Ants’by Dinh Tien Luyen, (a children’s story about two brothers’ adventure), 1996;
2. Quãng Đời Tôi ‘Reminiscences of My Life’by Tran Du, 1996;
3. Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ‘The History of the Catholic Church in Vietnam’(from 1530-1975) by Phan Phat Huon, CSsR, 1997;
4. Cây Cảnh và Hòn Non Bộ Việt nam ‘The Vietnamese Art of Miniature Landscape’, 1997;
5. Quê Hương thứ ba của tôi ‘My Third Homeland’ by James Luu, 1998;
6. Rước Lúa ‘Rice Worshipping’by Duong Van Tham (a document about Vietnamese tradition of worshipping the rice stalk, Fowler Museum, UCLA), 2000;
7. Những Thăng Trầm của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế ‘Vietnamese Communist Party Through Vicissitudes of the Communist International’by Nguyen Minh Can, 2001
8. Vàng Đen ‘Black Gold’a memoir by a Vietnamese Ranger in the Tri-angle where borders of three countries – Viet-Cambodia-Laos meet, 2003
9. Truyện Dân Gian Việt Nam ‘Vietnamese Folk Stories’(over ten bilingual stories with color illustrations and audio recordings for children and college students learning Vietnamese as a second language)
10. Nỗi Lòng ‘Sentiments and Aspirations’ by Nguyen Ninh Thuan about a Vietnamese woman who sacrificed her life for the sake of her parents, siblings, her husband and children. 2012
11. Chuyện Kể ‘My Story’by Tăng Vĩnh Lộc, a Vietnamese refufee to Germany who wishes to tell his younger generations why he had to flee the country when the communists took over the South in 1975, 2017
AUTHORED
I – Published:
1. American English Daily Phrases, World Graphics, 1994, available for free copy, http://www.tinhhoavietnam.net
2. English Grammar Handbook (the most up-to-date comprehensive grammar book ever written by a Vietnamese for Vietnamese adults and Vietnamese ESL/EFL college students, free workbook and key to practices), Tinh HoaViet Nam, 2nd ed., 2015
3. English Pronunciation Lessons (Saigon, 1984; out of stock)
4. English-Vietnamese Handbook for Translator (a textbook for college students specialized in English, Vietnamese/ Vietnamese-English translation) Saigon, 1983; out of stock
5. Forbidden English, World Graphics, 1995; out of stock
6. Introduction to Vietnamese Language and Culture, 2002
7. Ta Ve Ta Tam Ao Ta (a book of Vietnamese proverbs) published by SHEN’s in Acadia, California, 1998; Lee & Low Books, New York, Houghton Muffin Publishing House,
8. Thành Ngữ tiếng Việt (Vietnamese Idioms), 2001, 2010, 2018
9. Translators’ Handbook (a comprehensive guide to translators (English-Vietnamese/Vietnamese-English), 2017
10. US Citizenship Lessons a comprehensive series of lessons leading to mastering citizenship questions and answers for a successful passage of a citizenship interview, 2008 (out of stock)
11. Vietnamese for Busy People series 1&2, a practical method to learn authentic Vietnamese, 2004 by Coastline Community College and by Kendall/Hunt Publishing Company, Iowa, 2007, 2nd edition, 2014
12. Vietnamese Grammar Handbook 1, a comprehensive grammar book for heritage and nonheritage students, 2010, 2nd edition, 2013
II. To be published:
1. American Slang (more than 1,500 entries of slang and their equivalents;
2. English Idioms (more than 2,000 idioms with their equivalents);(for now, it is free at http://www.tinhhoavietnam.net )
3. Dictionary of Abbreviations and Acronyms (more than 3,000 common abbreviations and acronyms);
4. Tục ngữ tiếng Việt ‘Vietnamese proverbs’ (a collection of most Vietnamese proverbs used in daily conversation as well as in academic realm)
5. Truyện Kiều Chú Giải (a new annotation with replete details and new philosophical view points)
6. Ca Dao Việt Nam ‘Vietnamese Book of Folk Poetry’(more than 400 folk poems ever made in original Vietnamese verses and annotations in English)
7. Từ-ngữ Việt-Anh ‘Vietnamese-English glossary(a collection of terms commonly used by most people in their daily life, school, and business environments)
8. Từ-ngữ Anh-Việt ‘English-Vietnamese glossary (a collection of terms commonly used by most people in their daily life, school, and business environments)
9. Tự-điển tiếng Việt ‘Vietnamese Dictionary’ (a unique dictionary in Vietnamese ever exists that comprises seven parts for each entry: entry, part of speech, meaning, example, synonym, antonym, and its etymological root)

NỘI DUNG ĐỀ TÀI 6
TÌM HIỂU TỪ-NGỮ GỐC “HÁN”

Bối cảnh

Những tưởng Việt Nam được độc lập và tự chủ để phát triển và thịnh vượng để sánh vai cùng các bạn bè năm châu. Không ngờ, lịch sử tái diễn. Năm 1975, đánh dấu một mốc lịch sử không thể phai nhoà trong tâm khảm của mọi người Việt Nam yêu nước. Năm này là khởi điểm của một âm mưu đồng hoá tiếng Việt để sau đó đồng hoá văn hoá trong kế hoạch tái chiếm nước Việt của kẻ thù truyền kiếp phương bắc thông qua sự tiếp tay của lũ nội thù tay sai của chúng là đám cầm quyền. Chương này giúp mọi người có khái niệm về cách đấu tranh để sinh tồn của cha ông ta trong quá khứ. Chúng ta là con cháu, học cao hiểu rộng, không lẽ nào bị mắc mưu thâm độc của địch? Phải dĩ độc trị độc chứ?

Tổng quát

Do định mệnh lịch sử, tiếng Việt chúng ta có một số lượng khá lớn từ tiếng Tàu trong kho từ-vựng mà chúng ta thường quen gọi là chữ Hán. Thật ra mà nói, những từ-ngữ này nên được gọi nôm na là chữ Tàu chuyển tự. Vi sao? Do tài trí của cha ông ta đã tạo cho chính dân tộc mình một lối thoát kỳ diệu để tránh không bị đồng hoá mặc dầu bị đô hộ trên một ngàn năm (111trước tây lịch – 938 sau tây lịch) và sau đó được hoàn toàn tự chủ.
Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ và dùng xen lẫn trong vài trường hợp là chuyện bình thường của cả thế giới; tuy nhiên, trường hợp của Việt và Tàu thành hình trên căn bản khá “bất thường” tức là bị áp đặt, thay vì tự nhiên do mối giao tiếp giữa hai dân tộc qua buôn bán, ngoại giao, tiếp xúc, hôn nhân, hay lý do nào khác.
Thảm khốc hơn nữa, trong suốt chiều dài lịch sử nước Việt, quân Tàu nói chung hay quân của các triều đại bên Tàu từ Tần, Hán, Tuỳ, Đường, Tống, Nguyên, Minh, đến Thanh đều luôn luôn tìm cách xâm lăng nước ta, bắt đầu bằng sự xâm lăng của nhà Hán. Có lẽ do vậy mà chúng ta thường gọi chữ Tàu là chữ Hán?!
Dù sao thì định mệnh lịch sử đã để lại cho lớp người sau như chúng ta một số lượng khá lớn chữ Tàu chuyển tựtrongkho tàng từ-ngữ mà chúng ta dùng. Để làm sáng tỏ cái hệ quả này, bổn phận chúng ta là cần tìm hiểu thật rõ từ-ngữ gốc “Hán” hay chữ Tàu là gì. Qua đó chúng ta tiếp tục nối lại truyền thống độc lập về ngôn ngữ để duy trì độc lập về truyền thống mà ông cha ta đã gầy dựng nên.
Định nghĩa chữ “Tàu” và lối chuyển tự
Như đã trình bày sơ lược ở trên, cách gọi từ-ngữ gốc Hán không mấy chính xác. Hãy nhìn quanh các nước trên thế giới xem họ gọi nước Tàu là gì? Anh ‘China’, Pháp ‘Chine’,Tagalog ‘Tsina’, Ý ‘Cina’, vùng Trung Ba-tư ‘Chīnī چی.’, tiếng La-tinh ‘Sinae’, tiếng Ả-rập ‘اَلصِّين‏ {aṣ-ṣīn}’. Nhìn chung, tiếng các nước này đều dựa trên tên nguyên thuỷ là Q’in 秦 {ts’in}>Tầnmà chúng ta gọi trại thành Tàu.Ngành nghiên cứu về nước Tàu là Sinology; những gì thuộc về Tàu thì ghi là Sino-: Sino-origin ‘từ gốc Tàu.Riêng người Việt bình dân đã biết và gọi nước Tàutừ lâu đời nay.
Khác với mọi nước khác trên thế giới, tên “Trung Hoa” mới xuất hiện từ thời Sun Yak-sen (Tôn Dật Tiên) thủ lãnh cuộc Cách Mạng Tân Hợi và lập nên nền cộng hoà đầu tiên cho nước Tàu với danh xưng chính thức là Trung Hoa Dân Quốc. Trước kia, nước Tàu chỉ mang tên theo từng triều đại nắm quyền: Tần, Hán, Tuỳ, Đường, … đến ba triều cuối cùng là Nguyên, Minh, Thanh. Riêng các triều Hạ, Thương, Chu vẫn còn nằm trong giả thuyết.
Do đó cách gọi đúng cần điều chỉnh là chữ Tàu chuyển tự‘Chinese transliterated form’. Trong tiếng Việt có chữ thuần tuý và chữ Tàu chuyển tự qua bốn hình thức chữ ghép bao gồm: Việt-Việt, Việt-Tàu,Tàu-Việt, và Tàu-Tàu. Ngoại trừ loại chữ ghép Việt-Việt, bài này sẽ phân tích kỹ ba hình thức còn lại như vừa nói.
Trước hết, thế nào là chuyển tự? Đây là hình thức chuyển cách viết từ một ngôn ngữ không quen với người đọc sang cách viết quen thuộc. Chẳng hạn, người Hy-lạp viết Ελληνική Δημοκρατία”được đổi thành ‘Hellenic Republic’ theo cách của người nói tiếng Anh hoặc‘Ellēnikḗ Dēmokratía’ của người biết tiếng La-tinh. Hoặc chữ Россия thì được đổi thành ‘Rossiya’tức là ‘Russia’ đối với người Anh, và người Việt nói là Nga.
Người Tàu dưới triều đại do Liu Bang > Lưu Bang lập nên, lấy tên là nhà 漢Han > Hán, đã xua quân sang chiếm Việt Nam, mở màn một thời kỳ áp đặt chữ viết lên nền giáo dục Việt Nam. Họ không ngừng ra sức xoá sạch mọi vết tích ngôn ngữ và văn hoá của dân Việt và thay vào đó bằng các thứ của họ. Từ đó chữ viết nguyên thuỷ của người Việt là chữ nòng nọc (con giun) mà họ gọi là khoa đẩu 蝌蚪đã bị quân của cháu Liu Bang là Han Wudi> Hán Vũ Đế (140-84 trước công nguyên – TCN) khởi động chiến dịch xoá sạch ngôn ngữ và văn hoá Việt nhằm đồng hoá dân Việt thành dân “Hán” của họ. Từ sau giai đoạn này, chữ nòng nọc biến mất.
Ngày nay nhiều nhà trí thức Việt Nam đang cố công gầy dựng lại hệ thống chữ viết này vừa để chứng minh cho thế giới biết nền văn minh cổ của người Việt vừa cho mọi người thấy giặc đã ăn cắp của chúng ta những gì rồi mang trở lại dạy cho chúng ta, khiến cho nhiều người cứ tưởng lầm mà đem lòng thần phục một cách thiếu thận trọng.
Ngược dòng lịch sử
Trên đây là vài nét về cách nhìn chữ “Hán”, nhưng sựthâm nhập của nó vào ngôn ngữ và văn hoá Việt là một vấn đề cần nêu rõ.
Như trên đã nói, sự tiếp xúc giữa chữ Tàu và chữ Việt đã trải qua những thời kỳ khốc liệt: một bên cố áp đặt để đồng hoá và một bên gắng né tránh để vừa không bị tiêu diệt mà vẫn tồn tại cùng lúc chờ thời cơ vùng lên thoát khỏi ách thống trị đó.
Vì vậy vốn từ-ngữ chữ Tàu chuyển tự trong tiếng Việt có khoảng 29% thay thế hoàn toàn tiếng Việt trong mọi lúc và khoảng 60 đến 70% dùng lẫn lộn với tiếng Việt, nhưng phần lớn nghĩa hơi khác. Đây là hậu quả của chính sách Hán hoá của bọn phương bắc. Nổi bật nhất là thái thú Sĩ Nhiếp dưới thời Đông Hán. Khá nhiều nhà sử học Việt cứ dựa theo sách Tàu mà ca tụng người này, nào làcó công dạy cho dân cày cấy, giữ gìn bờ cõi bình an, nào là phát triển giáo dục bằng cách dạy Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách Gia Chi Tử, dạy chính trị, y học, kinh truyện, và phiên dịch âm nghĩa.
Sĩ Nhiếp là người thế nào? Theo sử Tàu, y gốc người nước Lỗ. Tổ bảy đời của Sĩ Nhiếp lánh nạn Vương Mãng mới chạy đến đất Thương Ngô. Cha của Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ, làm thái thú quận Nhật Nam. Nhờ cha mà Sĩ Nhiếp được đi học, thăng quan tiến chức và cuối cùng làm thái thú ở quận Giao Chỉ. Sĩ Nhiếp có ba thủ đoạn: gạt Trương Tân về triều để leo lên chức thứ sử; đưa anh em vào làm thái thú các quân Cửu Chân, Hợp Phố, Nam Hải; đưa hàng trăm người thân và người quen sang Giao Chỉ lập nghiệp và tạo vây cánh. Nhờ đám này mà Sĩ Nhiếp được tôn vinh làm Sĩ Vương “có công khai hoá dân Giao Chỉ!”
Sang đến đời Tuỳ, Đường, (khoảng 581 – 907), triều đình bên Tàu áp dụng chế độ khoa cử ở nước ta để nhằm đào tạo và tuyển chọn Nho sinh người Việt. Tất cả đều phải về kinh đô Trường An để thi thố tài năng. Từ đó có khá nhiều Nho sinh người Việt thông thạo chữ Hán và trở thành Nho sĩ. Âm dùng cho lối chuyển tự này là chữ Tàu dựa trên giọng Trường An. Chính số Nho sĩ người Việt này trở thành lực lượng truyền bá chữ Nho tích cực nhất.
Hiện tượng dùng chữ Nho và chữ Việt bắt đầu thịnh hàng dưới dạng song ngữ. Và cũng bởi chữ khoa đẩu hoàn toàn biến mất nên chữ Hán trở thành “quốc ngữ” của người Việt; mọi chiếu, chỉ, sắc, dụ của vua và văn thư trao đổi giữa người dân với nhau cũng đều viết bằng chữ Hán.
Rất may, tuy là viết chữ Hán nhưng người Việt không nói theo âm Hán mà dùng lối chuyển tự. Nên ghi một dấu son vào tài trí và năng lực siêu việt của các Nho sinh khi vẫn dùng chữ Tàu nhưng không hoàn toàn chịu lệ thuộc vào chữ đó. Nhờ vậy mà khi đất nước giành được tự chủ để độc lập thì tiếng nói của người Việt được sống trở lại và phát triển cho đến ngày hôm nay. Kết quả của cuộc tiếp xúc cưỡng bức do giặc xâm lăng phương bắc để lại một khối lượng khá lớn chữ Tàu chuyển tự khá lớn trong kho tàng từ-ngữ tiếng Việt.
Chữ Hán, chữ Nho hay chữ Tàu chuyển tự trong kho tàng từ-vựng tiếng Việt:
Thoạt tiên, khi mới có sự tiếp xúc giữa chữ Việt và chữ Tàu thì sự pha trộn bắt đầu bằng các chữ chỉ thức ăn hay các sinh hoạt hàng ngày, theo lối bình dân không chính thức: (tiếng Việt Tàu) theo sự tiếp xúc tự nhiên:
Người Tàu đến vùng Đồng Nai – Cửu Long từ lúc nào?


Theo Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Phước:
“Sử sách chép rằng người Trung Hoa đã có mặt ở VN từ hơn hai ngàn năm trước; nhưng con số lúc đó chắc làít lắm. Miền Bắc gần ranh giới TH, nên có một số thương gia Tàu sang VN buôn bán. Nhưng đợt di dân quan trọng nhất của người TH vào VN xảy ra vào thế kỷ 17. Số là vào khoảng giữa thế kỷ 16 thương gia TH và Nhật đã dùng một số hải cảng của VN (ở miền Bắc và Trung) trong việc buôn bán vì thương gia TH không thể giao thương trực tiếp với các thương nhân người Nhật tại lãnh thổ Nhật vì có lệnh cấm buôn bán với Nhật do nhà Thanh của TH đưa ra .
Sau khi người Mãn Châu chiếm và cai trị toàn lãnh thổ TH và lập nên Nhà Thanh (1644-1911), có một số cựu thần nhà Minh không chịu đầu hàng. Họ lập phong trào “Bài Mãn Phục Minh”. Địa bàn hoạt động của họ mạnh nhất ở các tỉnh giáp giới với VN. Sự kiện nầy đã làm cho miền biên giới Hoa – Việt trở nên một vùng giặc giã liên miên “đã khiến dân Việt (vùng biên giới) vô cùng thống khổ vìđám giặc “Tàu Ô”nầy” .
Vào năm 1679, một số cựu thần nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh, tìm cách trốn khỏi TH. Trong số nầy có:
Dương Ngạn Địch (cựu Trấn Thủ một số quận thuộc Quảng Tây) và Trần Thượng Xuyên (còn có tên là Trần Thắng Tài) cựu Trấn Thủ một số quận thuộc Quảng Đông) dẫn thuộc hạ (khoảng 3000 quân lính, gồm đa số là người QĐ và Phúc Kiến, và hơn 50 chiến thuyền) đến Tư Dung vàĐà Nẵng tạm trú và xin theo Chúa Nguyễn. Rất ngại sự có mặt của nhóm người TH nầy ở Thừa Thiên (nơi có phủ chúa) và vùng lân cận, Chúa Nguyễn đã cho họ vào miền Đồng Nai, Cửu Long cư trú*, mặc dầu vùng nầy còn thuộc Chân Lạp. (Vào khoảng thập niên 1650-60 vua Chân lạp đã chịu thần phục Chúa Nguyễn.)
Nhóm Trần Thượng Xuyên vào lập nghiệp ở vùng “Cù Lao Phố” (Biên Hòa ngày nay).
Nhóm Dương Ngạn Địch và phó tướng của y là Huỳnh Thắng vào cửa Tiền Giang, đi ngược lên và dừng lại lập nghiệp ở vùng Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang ngày nay).
Hai nhóm dân Trung Hoa mới nầy có biệt danh là người “Minh Hương” hay người trung thành với nhà Minh của Trung Hoa.
{(*Ý nghĩ của Chúa Nguyễn khi gởi những người TH tỵ nạn đi xa khỏi vùng Thừa thiên làđể tránh nguy hiểm cho phủ Chúa vàđãđược chứng tỏ làđúng: Huỳnh Thắng cùng thuộc hạ của y, sau khi mở mang được nhiều vùng đất ven bờ Cửu Long, có dã tâm tách khỏi quyền lực Chúa Nguyễn và lập vùng tự trị như một nước riêng. Chúa Nguyễn phải dùng Trần Thắng Tài đem quân đi dẹp nhưng chỉđánh và giết được Huỳnh Thắng sau nhiều thiệt hại cho cảđôi bên. Phải vài chục năm sau, chúa Nguyễn mới dẹp hết nhóm tàn quân của Huỳnh Thắng, vì họđã trốn lên vùng Biển Hồ, dựa vào quân Cam Bốt và quân Xiêm (Thái Lan) để tồn tại trong việc chống Chúa Nguyễn .}
Trong lúc đó vào khoảng 1671, một thanh niên tên Mạc Cửu (người QĐ), sau khi nổi dậy và thất bại trong việc chống nhà Thanh, đãđến phía Đông Nam Chân Lạp với mấy trăm tùy tùng, được phép vua Chân Lạp cho khai thác vùng bờ biển gần Phú Quốc. Tuy còn trẻ nhưng Mạc Cửu rất thành công trong việc mở mang vùng Hà Tiên (ngày nay), sau khi chiêu mộ thêm nhiều người TH (cùng hoặc khác tiếng nói) và cả người VN và người Cam Bốt. Vùng Hà Tiên trở nên một khu tự trị phồn thịnh. Tuy nhiên vì bịáp lực quân sự từ phía Thái Lan, vào năm 1708, Mạc Cửu đã xin thần phục Chúa Nguyễn vàđược chúa Nguyễn Phúc Chu phong chức Tổng Binh Hà Tiên .
Ngoài người TH gốc Quảng Đông và Phúc Kiến, còn có rất nhiều người TH gốc Triều Châu (Tiều) lẫn lộn trong ba nhóm người trên. Nhóm Triều Châu đông nhất, thuộc nhóm Mạc Cửu.
Thứ đến là con đường chính thức. Theo con đường này, tiếng Việt đã chuyển tự theo ba hình thức: hình, nghĩa, âm. Hình thì giữ nguyên cách viết nhưng thay đổi nghĩa theo cách làm giảm qui mô ngữ nghĩa. Nghĩa thì dùng chữ Tàu theo cách riêng của người Việt và dĩ nhiên âm thì hoàn toàn khác với âm Tàu.”
***


Để cho rõ hơn, chúng tôi lần lượt trình bày thêm về ba hình thức của TS Phước vừa nêu trên:

HÌNH: Hình thức nàyhầu như giữ nguyên cách viết của người Tàu. Lưu ý, trong mục này sẽ có thể thêm hình thức phiên âm mà người Tàu gọi là拼音bính âm ‘pinyin’ đi kèm, theo thứ tự chữ Tàu chuyển tự, nguyên hình chữ Tàu, và phần phiên âm‘transcription’. Cách này giúp độc giả dễ phân biệt sự khác nhau giữa cách viết và nói theo tiếng Việt với ‘pinyin’ trong ngoặc vuông{} là cách đọc tiếng Tàu. Muốn nắm vững cách đọc này, người học cần phải thêm một bước nữa là dùng mẫu tự phiên âm quốc tế IPA (International Phonetic Alphabet) để nắm vững cách phát âm ghi bằng dấu ngoặc vuông [ ]. Phạm vi bài này chỉ thiên về phần chuyển tự nên chỉ nêu vài thí dụ về phần phát âm để phân biệt:

TND-H1
Khoảng chừng hơn trăm năm trở về trước,hầu như học sinh nào cũng học qua Tam Thiên Tự 三千字{sān qiān zì}[rồi đến Minh Tâm Bửu Giám 明心寶鑑{míng xīn bǎo jiàn}. Lần lượt, các Nho sinh Việt Nam phải học Tứ Thư四書{sì shū}, Ngũ Kinh 五經{wǔ jīng}, v.v.. để viết thông thạo nên rất nhiều Nho sinh Việt đậu rất cao và được bổ làm quan tại chỗ hay cả bên Tàu. Có thể nhiều Nho Sinh học luôn cả cách nói để có thể giao tiếp trực tiếp hoặc làm thông dịch viên cho các sứ thần của hai nước, nhưng căn bản vẫn là bút đàm. Chẳng hạn như Nguyễn An là nhân vật tiêu biểu.
NGHĨA: Hình thức này rất quan trọng. Nó nói lên tính cách tài tình của Nho sinh Việt Nam khi ứng dụng vào thực tế cần hoá giải áp lực của cường quyền xâm lược. Về nghĩa, chữ Tàu chuyển tự có nhiều hình thức:

1. Giữ nguyên nghĩa. Người Việt chọn lọc khi dùng tiếng Tàu chuyển tự với các chữ Tàu sẵn có, gồm các từ ngữ dùng trong mọi sinh hoạt xã hội. Những ví dụ dưới đây chỉ đơn cử một số trường hợp về nghĩa, vì tiếng Tàu có vô số chữ đồng âm dị nghĩa ‘homophone’, tức là cùng cách đọc nhưng khác cách viết; từ đó nghĩa cũng thay đổi theo. Thí dụ, tiếng Anh có âm {bεɚ} nhưng nếu viết bear nghĩa là ‘con gấu, mang theo, chịu đựng, mang thai, ra trái/quả, có đủ sức, …v.v..’ khác với bare ‘để trần, mộc, nguyên gốc, tối thiểu, …’ Hiện tượng này đối với tiếng Tàu còn nhiều hơn vậy gấp bội, chẳng hạndu{ju/zu} tiếng Việt, {yú} tiếng Tàu có thể gồm: 榆 ‘cây du, 腴‘mập, ca tụng’愉‘đẹp ý’ 予‘tôi’ 餘‘số dư’ 渝 ‘thay đổi (thái độ)’瑜 ‘vượt trội, ngọc quý’妤‘đẹp trai’ ‘’,於‘ở tại’,與‘như’ 愚,‘ngu đần’,漁‘cá, đánh cá’ v.v.. gần 36 chữ đồng âm như vậy.

2. Thay đổi một phần nghĩa của tiếng Tàu khi sang tiếng Việt. Đây là hiện tượng đơn giảnngữ nghĩa cho phù hợp văn phong tiếng Việt, đồng thời để làm phong phú cách diễn đạt.
Lấy thí dụtống送{sòng} ‘tiễn chân’ trong tống biệt, tống hành, tống thẫn ‘đưa đám ma’ sẽ trở nên “khó chịu” nếu bị tống ra cửa thay vì đưa ra cửa. Từ đó hai chữ trở thành hai nghĩa có cách dùng hơi khác nhau. Tương tự:
– ái愛{ài} ‘yêu, thương’ + quốc國{guó} ‘nước’: ái quốc = yêu nước, nhưng chỉ có thể nói: tinh thần yêu nước hay tinh thần ái quốc, chứ không thể nói tinh thần ái nước hay tinh yêu quốc.Ái còn có nghĩa thích (ái du vịnh ‘thích bơi), nửa này nửa kia ‘ái nam ái nữ’
– hư 虛{xū} ‘trống rỗng, không chứa gì, thiếu tự tin, không khoẻ, hụt, sẩy, chỉ có tiếng mà thôi’. Khi đi với cấu>hư cấu虛構{xū gòu} ‘bịa ra, tưởng tượng, không có thật’. Người mình xem tiểu thuyết hư cấu, tức là từ nhân vật đến cốt truyện đều do tác giả nghĩ ra, chứ không có ý muốn nói “bịa chuyện”. Với bịa chuyện, người Việt có ý xấu đối với người nói.
– tẩy 洗{xǐ} ‘rửa, tắm, giặt, làm sạch’ nhưng người Việt chỉ dùng có một nghĩa “tẩy chất dơ” chứ không dùng để “tẩy đầu, tẩy mặt, người, quần áo” mà “gội, rửa mặt, tắm, và giặt quần áo”.
– tiểu {xiǎo} ‘nhỏ, vợ nhỏ (tiểu lão bà), của tôi (tiểu điệt – cháu tôi), vụn vặt, phần nào, đáng khinh, thiếu, một lúc, đi đái, cái bình nhỏ đựng hài cốt), nhưng người Việt chỉ dùng một vài nghĩa trong đó: “đi tiểu, cái tiểu (đựng hài cốt), đặc biệt khi dùng với chữ khác: tiểu tâm 小心{xiǎo xīn} ‘cẩn thận’ > ‘nhỏ mọn’, tiểu hài {小孩}> ‘con nít’, tiểu kê {小雞}> ‘gà con’, tiểu ngưu{小牛}> ‘bò con’, …
– trúc竹{zhú} ‘tre’ đối với người Tàu nói chung, nhưng đối với người Việt trúc chỉ là một trong nhiều loại tre (trúc, nứa, mai, vàu, hóp, giang, bương, la ngà, tầm vông hay cán dáo, …)và thường để làm sáo hay cần câu: sáo trúc, giậu trúc; phên tre, chõng tre, chứ không bao giờ nói sáo tre hay chõng trúc.
– vị 味{wèi} ‘vị, mùi’ nhưng người Việt chỉ dùng ‘vị’ để nếm, và ngửi thì đã có chữ “mùi”

3. Thêm chữ để rõ nghĩa. Khi dùng chữ Tàu chuyển tự, người Việt còn thêm từ trước hay sau để làm rõ thêm vật, điều hay việc muốn nói đến:
Hồng Hải >biển Hồng Hải bổ sung >bổ sung thêm
dẫn chứng >đưa dẫn chứng dự chi >dự chi trước
đại thụ >cây đại thụ giới tuyến >đường giới tuyến
xa-lộ >đường xa-lộ gia nhập >gia nhập vào
sinh nhật >ngày sinh nhật Thái-sơn >núi Thái-sơn
Thái Lan >nước Thái Lan Hồng hà >sông Hồng Hà
Hương Giang >sông Hương Giang đại sự >việc đại sự
Hùng Vương >vua Hùng Vương xâm nhập >xâm nhập vào,…
Xét cho cùng, lối nói này tuy “dư” nhưng từ người bình dây đển kẻ có học đều nói như vậy. Nếu chỉ nói “trổng” như kiểu Tàu thì người nói sẽ cảm thấy “thiếu” cái gì.

4.Đổi cho thuận theo tự nhiên. Đấy là lối làm cho thuận theo cách nói của người Việt. Đối với người Việt, đa số tiếng Tàu đều nói ngược với lẽ tự nhiên. Chẳng hạn ngũ hành của người Việt là giáp ất (nước), bính đinh (lửa), mậu kỷ (gỗ), canh tân (kim), nhâm quý (đất) – thuỷ-hoả-mộc-kim-thổ. Người Tàu lại bảo là giáp ất (mộc), bính đinh (hoả), mậu kỷ (thổ), canh tân (kim), nhâm quý (thuỷ).
Vì sao gọi làn thuận theo thiên nhiên? Sự sống trên thế gian này cần nhất là nước (thuỷ), nhưng phải cần lửa (hoả) để cho ấm áp; từ đó mới sinh ra cây cỏ (thảo mộc). Sau đó mới đến kim, và thổ (đất) là thứ luôn có sẵn trên mặt địa cầu này. Thế nhưng đa số thường nói kim mộc thuỷ hoả thổ là dựa theo tính cách “cần dùng” của các chất: kim cần thiết nhất để tạo ra nhiều vật dụng, kế đến là gỗ, vân vân. Tương tự, một con vật chết thì một ngày sau bắt đầu hôi, rồi mấy ngày sau sẽ thối, từ đó sẽ gồm cả hôi thối.
Từ quan niệm này người Việt, khi du nhập tiếng Tàu vào đều đổi thứ tự của cách nói người Việt thường dùng. Lưu ý: nghĩa ghi theo phần chữ Tàu chuyển tự.
Tàu(chuyển tự, nguyênchữ, pinyin, nghĩa) Việt
ẩn bí 隱蔽{yǐn bì}‘che đậy kỹ, không ai biết hay thấy’ > bí ẩn
chứng triệu 症兆{zhēng zhào} ‘báo trước có bệnh, dấu hiệu’ > triệu chứng
đảm bảo擔保{dān bǎo}‘ra tay làm việc, che chở’ >bảo đảm
kiến chứng 見證{jiàn zhèng}‘đã thấy được, viện dẫn sự kiện’ > chứng kiến
lệ ngoại 例外{lì wài}‘khuôn mẫu, nằm ngoài’ > ngoại lệ
luỹ tích 累積{lěi jī}‘chồng lên nhau, gom lại’ > tích luỹ
mệnh vận命運{mìng yùn}‘số phận, xoay chuyển’ > vận mệnh
nhiệt náo 熱鬧{rè nao}‘nóng nực, ồn ào’ > náo nhiệt
phục sắc 服色{fú sè} ‘áo quần, màu sắc’ >sắc phục
tải trọng 載重{zǎi zhòng} ‘chuyên chở, vật nặng’ > trọng tải
thích phóng 釋放{shì fàng} ‘ưa chuộng, thả cho đi’ > phóng thích
triển khai 展開{zhǎn kāi} ‘nảy nở, mở ra’ > khai triển
triều thuỷ 潮水{cháo shuǐ} ‘cơn nước, nước’ > thuỷ triều
vãn cứu挽救{wǎn jiù} ‘kéo lôi, gỡ ra khỏi nạn’ >cứu vãn
vượng thịnh旺盛{wàng shèng} ‘tốt đẹp, may mắn’ > thịnh vượng

5.Tàu-Việt: Để làm tăng thêm ý nghĩa của hình thức hai vần mà đa số người Việt thường dùng, chữ ghép ‘disyllabic’ với một chữ là Tàu chuyển tự (gạch dưới) và một chữ Việt cùng nghĩa theo sau. Mục này gồm có hai nhóm:
a. hai chữ cùng nghĩa
chi nhánh 枝{zhī} ‘cành nhỏ’ (branch of a mother entity or company)
giảm bớt 減{jiǎn} ‘trừ, bớt’ (to decrease, to reduce)
học hỏi 學{xué} ‘tìm biết, bắt chước’ (learn, study)
khi dể 欺{qī} ‘đánh lừa, coi thường’ (to cheat or deceive, take down on s.o/s.t.)
kính nể 敬{jìng} ‘trọng, tiếng lịch sự’ (to venerate, respect)
kỳ lạ 奇{qí} ‘không ngờ, khác thường, hiếm’ (strange, weird)
linh thiêng靈{líng} ‘mau lẹ, sắc sảo, hiệu lực khi cầu khẩn, xác người’ (efficacious; quick)
nghi ngờ 疑{yí} ‘không đáng tin, không tin được’ (to suspect, doubt)
nghiêm ngặt 嚴{yán} ‘chặt chẽ, khe khắt’ (strict, serious)
phân chia 分{fēn} ‘tách, cắt ra thành nhiều phần nhỏ’ (divide, split)
phòng ngừa 防{fáng} ‘coi chừng, bảo vệ’ (to prevent, protect)
thấu suốt 透{tòu} ‘xuyên qua, sâu sắc’ (to pass through, thorough)
thoát khỏi 脫{tuō} ‘rụng, cởi, ra khỏi’ (fall, dress off, to be out of)
tiễn đưa餞{jiàn} ‘đặt tiệc đưa chân’ (to see someone off, farewell dinner)
tội lỗi 罪{zuì} ‘điều phạm pháp’ (fault, guilt, crime)
tù đày 囚{qiú} ‘thiếu tự do, sưng to, tối tăm’ (prison, exile)
xâm lấn 侵{qīn} ‘phạm qua vùng khác, tới gần’ (to invade, penetrate)
b. hai chữ khác nghĩa (có thể gọi là phản nghĩa)
cao thấp 高{gāo} ‘không phân biệt kích thước’ (unable to tell the size)
đầu đuôi頭{tóu} ‘rõ ràng, mạch lạc’ (clear, well-told or written)
trầm bổng 沉{chén} ‘chìm, thấp xuống’(to submerge, to lower)

6.Việt-Tàu. Song song với các từ ghép khác, trong kho từ-vựng tiếng Việt còn có hình thức Việt-Tàu, tức một chữ Việt đứng trước và một chữ Tàu chuyển tự theo sau, như:
chia ly離{lí} ‘rời khỏi, bỏ đi, khác, cách xa’ (to leave, go awy, distant)
dối trá詐{zhà} ‘đánh lừa, giả bộ’ (crafty, dishonest, to cheat)
khen thưởng賞{shǎng} ‘ban tặng, hưởng, nhận đúng giá trị’ (award, appreciate)
kiện tụng訟{sòng} ‘đi thưa ai ở toà’ (to accuse, to sue)
nghề nghiệp業{yè} ‘ngành đã chọn, việc kinh doanh, việc kiếm ăn’ (career, profession)
rèn luyện鍊{liàn} ‘nấu để lọc sạch, tôi kim loại’ (to train, to practice for perfection)
say mê迷{mí} ‘lạc đường, làm rối trí, thích quá độ’ (lost, confused, bewildered)
thờ phụng奉{fèng} ‘kính dâng, kính trọng, cung kính’ (to revere, venerate)
xấu xí企{qǐ} ‘lừa, bỏ qua, không đẹp’ (to cheat, let go, ugly)

7.Tàu-Tàu. Hình thức thứ ba là hai chữ Tàu chuyển tự đi với nhau. Đặc điểm của hình thức này có thể thay thế bằng hai chữ ghép Việt-Việt ở một số trường hợp thì nghĩa không đổi, nhưng một số khác thì nghĩa sẽ khác.
a.Không đổi nghĩanhưng có thể khác cách dùng (nhưng có vài trường hợp đổi vị trí trước sau). Chỗ nào có thí dụ kèm theo là có sự thay đổi vi trí:
an bài 安排{ān pái} ‘sắp đặt, đặt để trước.’ (arrange, pre-plan) số phận đã an bài
ẩm thực飲食{yǐn shí} ‘uống ăn >việc ăn uống’ (drinking & eating) việc ăn uống
bình an 平安{平安} ‘đều đều không bị hại’ (safe and peace)ai cũng muốn bình an
bản chất 本質{běn zhì} ‘tự tính của sự việc, cái gốc tự nhiên’ (nature, essence)bản chất của sự việc
Hồng Hải 紅海{hóng hǎi} ‘biển Đỏ giữa Phi châu và Ả-rập’ (Red Sea)
huynh đệ兄弟{xiōng dì} ‘anh &em trai’ (brothers, siblings)tình huynh đệ
phong cách風格{fēng gé} ‘lối, thái độ cư xử’ (style) phong cách của một nhà giáo
phụ mẫu父母{} ‘cha mẹ < mẹ cha’ (father and mother)tình phụ mẫu
sơn dương山羊{shān yáng} ‘sơn dương (mountain goat)đi săn sơn dương
sơn thuỷ山水{shān shuǐ} ‘núi nước’ (mountain & water, landscape) nước non nghìn dặm ra đi
thiên tài天才{tiān cái} ‘khả năng trời phú cho’ (talent, genius)một thiên tài quân sự
Thượng Đế 上帝{shàng dì} ‘Đấng Tối Cao’ (God)Thượng Đế trên cao
y phục衣服{yī fu} ‘áo quần’ (clothes in general)quần áo chỉnh tề
b.Đổi nghĩa; tức là người Việt dùng chữ Tàu chuyển tự theo cách riêng của mình chứ không dùng theo nguyên nghĩa của nó. Dấu > cho thấy chữ Tàu có nghĩa riêng và chữ Việt có nghĩa riêng. Chữ viết tắt (S = Sino ‘Tàu’; V = Việt)
an bài安排{ān pái} S: ‘sắp xếp” V: ‘định trước’
bản lãnh本領{běn lǐng} S: ‘khả năng’ V: ‘vốn liếng’
bình toạ平坐{píng zuò} S: ‘ngồi ngang’ V: ‘bảnh choẹ’
đê thanh 低聲{dī shēng} S: ‘tiếng trầm’ V: ‘thì thầm’
đồng cư同居{tóng jū} S: ‘sống chung’ V: ‘chung chạ’
hãnh diện 悻面{xìng miàn} S: ‘kiêu ngạo’ V: ‘lấy làm tự hào’
hiện thành 現成{xiàn chéng} S: ‘(đồ) làm sẵn’ V: ‘sẵn sàng’
hoà hảo 和好{hé hǎo} S: ‘kết hợp’ > V: ‘đối tốt với nhau’
khả năng 可能{kě néng} S: ‘có thể’ > V: ‘năng lực cá nhân’
lân cư鄰居{lín jù} S: ‘hàng xóm’ > V: ‘lang chạ’
lịch sự 曆事{lì shì} S: ‘từng trải việc đời’ > V: ‘nhã nhặn, khéo cư xử’
mã thượng馬上{mǎ shàng} S: ‘trên ngựa, nhanh lên’ > V: ‘cao cả’
tầm thường尋常{xún cháng} S: ‘không có gì đặc biệt’ > V: ‘xuềnh xoàng’
thiên hoa 天花{tiān huā}S: ‘hoa trời’ > V: ‘bệnh đậu mùa’
tiểu tâm小心{xiǎo xīn} S: ‘cẩn thận’ > V: ‘ nhỏ mọn, ích kỷ’
tử tế子細{zixi} S: ‘tỉ mỉ’ > V: ‘tốt bụng’
Trên đây chỉ là thí dụ đơn cử về chữ đơn và chữ ghép liên quan đến chữ Tàu chuyển tự. Mục kế tiếp nói về âm đọc.
ÂM: Âm Việt và âm Tàu khác nhau khá nhiều. Tuy hai ngôn ngữ đều có thanh điệu, nhưng tiếng Việt có sáu thanh, trong đó năm thanh cần đến dấu.
Dưới đây là hai bảng ghi âm chính (thường gọi là nguyên âm) nhằm giúp người đọc có thể đối chiếu và thấy rõ các âm giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ Việt và Tàu.
Các dấu thanh của tiếng Việt, tuỳ theo tác giả, có khá nhiều cách để dịch các dấu này sang tiếng Anh, riêng trong bài này, theo cách dịch của Trần Ngọc Dụng trong Vietnamese for Busy People 1 do nhà xuất bản sách giáo khoa Kendall Hunt Publishing Company ấn hành:

TND H2

Các thanh và dấu tiếng Việt
Thí dụ: ba bá bà bả bã bạ
Bảng âm chính (thường gọi là nguyên âm) tiếng Việt:

TND-H3
Bảng âm chính tiếng Việt

Từ bảng trên, tiếng Việt có 12 mẫu tự chính: a ă â e ê i o ô ơ u ư y tiêu biểu cho 11 âm chính {a ʌ ɤ ε e i ɔ o ə u ɯ i:j} vì “i” và “y” được xem đồng âm. Thật ra, hai âm này có khác nhau đôi chút ở một vài vị trí trong chữ. Thí dụ: hai[ha:i] và hay [hai:j]. Do đó mới có tên “i dài” (ngày trước gọi là “i-gret”.
Ngoài 12 mẫu tự chính, còn có 29 mẫu tự chính ghép, gồm:
ai aoauayâuâyeoêuiaiuoiôiơiuauiưaưiưu– nhóm 1
Nhóm này chỉ cần phần đầu thì thành chữ, do đó mọi dấu thanh đều đánh trên mẫu tự thứ nhất: cái áo màu mày tậu mấy kẹo tếu chĩa chịu thói hối tới sủa thủi thửa gửi cựu…
_iê_ oă_ _oo*_ uâ_ uô_ ươ_ –nhóm 2
oa…oe…uê… uy… –nhóm 3
Riêng hai nhóm 2 và ba thì dấu thanh cần đánh trên mẫu tự thứ hai:
chiếc xoắn goòng luận luống hướng hoà-hoàng khoẻ-khoẻn, tuế-tuếch, huý-huýt
cùng với 12 mẫu tự ghép ba:
iêu oai oao oay oeo uây uôi uya uyê uyu ươi ươu
Trong số 12 mẫu tự ghép ba này chỉ có UYÊ là cần đánh dấu mẫu tự trên Ê ở cuối, còn lại đều phải đánh vào mẫu tự giữa: chiều, xoài, ngoáo, xoáy, ngoèo, khuấy, tuổi, nguyệt, …

HỆ THỐNG PHIÊN ÂM TIẾNG TÀU
Tiếng Tàu có năm thanh, và bốn thanh cần đến dấu. Bảng sơ đồ này dựa theo giải thích và hướng dẫn của Từ Điển Hán Việt Hiện Đại do Nguyễn Kim Thản chủ biên, nhà xuất bản Thế Giới phát hành.
Lưu ý quý vị: Trong phần này cần phân biệt rõ hai dấu ngoặc { } và [ ]. Dấu { } là chỉ “pinyin” tức cách viết tiếng Tàu theo lối La-tinh hoá và dấu [ ] là chỉ cách đọc chữ “pinyin” đó. Nói nôm na là dấu { } chỉ cách viết và dấu [ ] chỉ cách đọc.

TND-H5
Tiếng Tàu có năm thanh và bốn thanh cần dấu.

TND-H6
Các thanh và dấu tiếng Tàu

Thí dụ: 八{bā} ‘số 8’ 拔{bá} ‘nhổ (cỏ)’ 把{bă} ‘cầm, nắm’ 耙{bà}‘cào, bừa’ 罷{.ba} ‘đi!’ (chữ đi này làm trạng từ chỉ sự hối thúc, khuyến khích: Đi đi! Nói đi! Học bài đi! Bỏ đi!)
Tiếng Tàu có các âm và vần chính sau đây:

TND-H7
Ghi chú: Những âm nào có dấu ( ’) thì bật hơi như kha[kha]so với không bật hơi ca [k˺a]củatiếng Việt, hoặc Tay [tei] và stay[st˺ei] của tiếng Anh vậy . Hoặc “dao” [tao]>con “dao” [jao] của Việt.
Sau đây là một số từ-vựng cùng vài nghĩa thông dụng làm thí dụ. Lưu ý: Trong các thí dụ dưới đây, có vài chữ người Việt không hề dùng đến. Ngoài ra, những chữ nào khác cách đọc nhưng cùng cách viết của người Việt thì có thêm phần phiên âm đi kèm.
– a阿{ā} ‘tiếng kêu la, thế à, à ơi, à uôm’
– á 亞{yà} ‘Á châu, về nhì, hạng nhì, tiếng kêu đau, câm, dùng dể phiên âm các tên như Abraham, Adriatic’
– ác惡{ě} ‘hung tợn, độc bụng, xấu, nôn oẹ, bệnh khó chữa’ {wù}‘ồ’
– ai哀{āi} ‘buồn rầu’
– âu藕{ǒu} ‘ngó sen’ 偶‘tượng gỗ, tình cờ’ một âm nữa là ẩu ‘ói mữa’.
– ba吧{ba} ‘nói khoa trương (ba hoa, ba xạo)’ 疤{bā} ‘vết sẹo’ 芭{bā} ‘tre hóp, thúng mủng’ 波{bō} ‘sóng’
– bá 百{bǎi} ‘trăm’ 伯{bó} ‘ôm vai, ôm cổ, bác (anh của cha), loại cây tùng,’
– các 閣{gé} ‘lầu, cửa hông’ 各 ‘mọi người’
– chất質{zhí} ‘bản thể, đặt câu hỏi (chất vấn), đi thẳng vào đề (chất phác)’
– cốt 骨{gú} ‘xương, khung đỡ, điểm chính yếu’ 鴣{gū} ‘gà gô’
– dũng 甬{yǒng} ‘hành lang dẫn vào các phòng’ 俑 ‘hình nhân bằng gỗ hay đất nung chôn theo người chết’ 踴 ‘nhảy lên’ 涌hoặc 湧 ‘tuôn chảy’ 勇 ‘can đảm’ 蛹‘con nhộng (tang dũng = con tằm)’ 恿‘xúi giục’
– dương陽{yáng} ‘mặt trời, phái nam, quạt gió, họ Dương, giơ lên, phất cờ, vênh váo’ 羊 ‘con dê’ 楊 ‘dương (liễu)’ 鍚‘đồ trang sức trước đầu ngựa’ 徉 ‘bước đi thong thả, đi tới đi lui (thảng dương)’ 煬 ‘nóng chảy’ 洋 ‘bao la, to lớn, nhiều’佯 ‘giả bộ, giả vờ’ 痒{yǎng} ‘ngứa, mụn lở’
– đạo 道{dào} ‘đường đi, lối làm việc, giáo lý, chủ thuyết, nói, nét vẽ, cứ tưởng là, đoàn người đi’ 盜 ‘ăn cắp’ 稻 ‘ruộng lúa’ 蹈{dǎo} ‘chân bước, (vũ đạo = nhảy theo nhạc)’ 導 ‘dẫn tới’
– đức 德{dé} ‘sống đúng theo lối tốt của xã hội, tu thân tới mức cao, việc thiện, loại từ tỏ lòng tôn kính: Đức Chúa, Đức Phật, Đức Bà’
– ê ê 誒{éi} ‘ơ, ớ, ủa (tán thán từ)’
– gia 家{jiā} ‘chung một họ’ 加 ‘cộng lại, thêm vào’ 茄{qié} ‘cà tím’ 傢‘đồ trong nhà’ 耶{yē} ‘(dùng để phiên âm: Đức Gia-tô)’ 爺{yé} ‘(Lão) gia, con trai trưởng (thiếu gia)’
– giáo教{jiāo} ‘dạy học’ 教{jiào} ‘hệ thống về quan hệ giữa người và Tạo hoá (tông giáo)’
– hà河{hé} ‘sông nhỏ; sông lớn 江’{jiāng} ‘giang’ 荷 ‘sen mọc trên khô’ 荷{hè} ‘vác trên vai’ 荷 ‘loại cây có mùi the’ 荷{kē} ‘gắt gao (hà khắc)’
– hán漢{hàn} ‘Hán giang (tên sông), triều đại do Lưu Bang sáng lập’
– ích益{yì} ‘điều lợi, tăng lên, tích trữ’ 鎰 ‘đơn vị đo độ nặng = 20 lượng’
– in印{yìn} ‘để vết lại’
– kê訐{jié} ‘ghi chép kỹ (thóng kê), bị chê, sửa lại cho vững, viết toa thuốc’ 雞{jī} ‘con gà’ 稽{jī} ‘kiểm tra, kiểm kê’ {qǐ} ‘quỳ xuống đất’ 乩{jī} ‘lên đồng, viết vào bảng nhỏ’
– khả可{kě} ‘có thể, chấp thuận, (dùng để phiên âm): khả khẩu khả lạc (Coca cola), khả lan linh (Kinh Koran’
– kĩ,妓{jì} ‘gái bán dâm (kĩ nữ, kĩ viện)’ 忮{zhì} ‘ghen, hung hăn’ kỹ技{jì} ‘nghề, năng lực, kỹ năng (tài sản xuất)’ 伎{jì} ‘tài, ngón chơi’
– lạc樂{lè} ‘niềm vui, thích, nhạc’ 酪{lào} ‘mứt, sữa pha a-xít’ 烙 ‘sao thuốc, đốt cháy’ 落{là} ‘rơi, rụng (toạ lạc,{ phai màu ’
– mã馬{mǎ} ‘ngựa, tên sông’ 瑪 ‘loại đá (mã não)’ 螞 ‘chuồn chuồn, kiến, cào cào’ 碼 ‘ký hiệu (mã số), chất đống’
– minh明{míng} ‘sáng, rõ ràng, thần trí, thị giác, hiểu biết, thời gian tiếp theo’ 冥 ‘tối tăm, thâu sâu, ngu đần’ 螟 ‘sâu lúa’ 銘 ‘khắc ghi, ghi lòng tạc dạ’ 盟{méng} ‘liên kết bằng lời thề (đồng minh)’
– năng能{néng} ‘tài cán, sức có thể làm’
– ngũ五{wǔ} ‘số 5’ 伍 ‘năm người (đội ngũ)’
– ngữ語{yù} ‘tiếng nói, nói trổng’ 圄{yǔ} ‘nhà tù’
– oan 冤{yuān} ‘nỗi bất công, hiềm thù, nói đùa, lở dở’ 鴛 ‘vịt trời (con trống)’ {} ‘’ {} ‘’ ô烏{wū} ‘con quạ, đen, cá mực có mu’ 鎢 ‘chất tungsten’ 嗚 ‘tiếng than (Ô hô ai tai! Ô, thôi chết rồi’
– pháp法{fǎ} ‘luật, cách thức, mẫu, bắt chước, ngón nghề lừa đảo, to mập’
– phương方{fāng} ‘vuông, khôn lớn, (dùng trong toán học) phương trình, phương số, thật thà (chân phương), hướng, nơi chốn, lối làm việc, đơn thuốc, tên người, đấu đong thóc’ 芳 ‘thơm’ 妨{fáng} ‘gây trở ngại, làm kẹt, thiệt hại’ 枋{fāng} ‘gỗ xẻ vuông’
– quá過{guò} ‘tên họ, vượt qua, vượt mức, tiêu thời gian, lui vào dĩ vãng, lần, phen, lầm lỡ, không phải lẽ’
– quan關{guān} ‘tên họ, đóng kín, đèo, lưu ý, trạm kiểm soát, cửa ải, rào chận, tiếng tượng thanh) quan quan thư cưu’ 觀 ‘nhìn hiện tượng, cảnh trí’{guàn} ‘(nơi thờ phượng đạo Lão) quán’ 官{guān} ‘công chức thời xưa, viên chức, bộ phận trong cơ thể’ 櫬{chèn} ‘hòm đựng xác chết’ 鰥{guān} ‘chồng chết vợ’
– Chữ Tàu không có vần R; do đó tất cả những chữ nào bắt đầu bằng “r” thì được đổi thành “l”, như Paris > Ba-lê, Roma > La-mã, Rousseau > Lư Thoa, inspiration > yên sĩ phi lý thuần, Puerto Rico > Ba đa Lê các, Bahrain > Ba lâm, …
– sanh 生{shēng} ‘sinh’ 笙 ‘ống tiêu’ 甥 ‘cháu trai’ (Người Bắc đọc là “sinh” thay vì “sanh”)
– sĩ士{shì} ‘người đỗ tù tài ngày xưa, người chuyên nghiên cứu, cấp bậc trong quân đội,’ 仕 ‘công chức ngày xưa’ 俟{sì} ‘chờ’
– tâm心{xīn} ‘tim, lòng dạ, trí suy xét, ở giữa’ 芯 ‘bọng xốp trong cây sậy’ 芯{xìn} ‘cái lõi’
– tần秦{qín} ‘nhà Tần, dùng dằng, tên rau’
– thanh 青{qīng} màu xanh, màu đen (thanh bố, thanh ti), con mắt, lúa còn non, còn trẻ, triều Thanh‘’ 菁{jīng} ‘xum xuê, củ cải trắng’ 晴{qíng} ‘trời trong’ 清{qīng} ‘yên lặng’
– ung癌{ái} ‘ung (thư)’ ’壅{yōng} ‘bị bít lại’
– uy 威{wēi} ‘oai dễ sợ’ 餵{wèi} ‘đút cho ăn, a-lô (Uy, thị thuỳ? Tôi đây, ai đó?)’
– ưng 應{yīng} ‘trả lời, thuận ý, đáng được, thế mới phải’ 鷹 ‘con ó, chim ưng’ 膺 ‘lồng ngực, nhận’
– ưu優{yōu} ‘rất tử tế, vượt trội, rất mực kính trọng’ 憂 ‘lo lắng, lo sợ, chăm lo (ưu quốc ưu dân)’
– vân雲{yún} ‘mây, như mây, tin tức, đầu đuôi trước sau’ 紜 ‘lưỡng lự, nhiều nữa’ 筠 ‘vỏ cật tre, tre lồ ồ’
– vị為{wèi} ‘vì (sao), nâng đỡ, xua đi, thuyết của Dương Chu’ 味 ‘nếm’ 未 ‘chưa (xảy ra)’ 謂 ‘nói rằng (vị chi)’
– xuân椿{chūn} ‘cây đại thọ (tiêu biểu cho người cha – xuân đường)’ 春 ‘mùa đầu năm, tuổi trẻ, sức sống, tên người’ 蠢{chǔn} ‘ngu đần, vụng về’
– xúc觸{chù} ‘sờ, đụng chạm, làm động lòng, chất làm cho hoá chất mau có phản ứng (xúc tác)’ 矗 ‘sừng sững’ 蹴{cù} ‘đá mạnh’
– y醫{yī} ‘y (học), chữa bệnh’ 衣 ‘y phục, áo quần’
– yên煙{yān} ‘’
Dựa trên các mục đã nêu trên đây, khi tiếng Tàu du nhập vào tiếng Việt để làm giàu cho kho tàng từ vựng của nước mình, người Việt thường thay đổi từ cách dùng chữ đến đến âm đọc để phù hợp với tinh thần người Việt.
Nói cách khác, người Việt đã “Việt hoá” chữ Tàu chuyển tự, về mặt “ngữ âm” bằng nhiều cách.
1. Thay đổi âm đầu:
a. Âm {b} tiếng Việt thay thế các âm {k˺},{p}, {f}hoặc “j” {tɕ}của tiếng Tàu ghi bằng chữ “g”> âm {g} của tiếng Việt:
các 閣{gé} ‘lầu, lâu’ > gác (attic, penthouse, garret)
cảm 敢{gǎn} ‘bạo dạn’ > gan dạ
can肝{gān}‘bộn phận tiết mật’ > gan (liver)
căn 根{gēn} ‘rễ cây’ > gốc rễ (root)
cẩm 錦{jǐn}‘loại vải quý’ > gấm
cấp急{jí} ‘mau’ > gấp (urgent)
kính鏡{jìng} ‘đồng soi’ > gương (glass, glasses)
kiếm 劍{Jiàn} ‘kiếm’ > gươm (sword)
bạ 薄{bù} ‘tập ghi’ > hồ sơ (to record, a record)
bác 博{bó} ‘bao la’ > rộng (vast, immense)
bách 百{bǎi} ‘trăm’ > nhiều (hundred, great quantity)
bán半{bàn}>‘bán’>một nửa (a half)
bạo 暴{bào} ‘mạnh thình lình’ dữ tợn (sudden, cruel, violent’
bằng 鵬{péng} ‘chim thần thoại thật lớn’ > chim bằng (legendary large bird)
bộc僕{pú} ‘đầy tớ’> người giúp việc (servant)
bồi 培{péi} ‘đắt cao thêm, tập dượt’ > thêm (to earth up, practice)
bồng篷{péng} ‘cỏ làm tên, trôi nổi’ (Erigeron grass, to sail)
bột 桲{po} ‘táo hoa đỏ’ (quince)
băng 馮{féng} ‘ngựa chạy nhanh’ (to gallop)
bổng 俸{fèng} ‘phúc lợi của công chức’ (civil servant benefit)
buồm帆{fān} ‘buồm’ (the sail)
ức 幅{fú} ‘bề ngang tấm vải, cỡ tờ giấy’ (width of cloth, size of a piece of paper)
b. Âm {v} như “vàng” của tiếng Việt thay cho âm {h} của Tàu. Lưu ý: Xem kỹ các ký tự trong bản ký tự và phiên âm trong bảng phụ âm đầu trên đây. Âm {t} viết là “d” để chỉ âm không bật hơi, khác với “t” >{t’} âm bật hơi như “th” tiếng Việt.
hoàng 黃{huáng} ‘vàng’ (yellow)
hoạ 畫{huà} ‘vẽ’ (to draw)
hằng恆{héng} ‘vĩnh (cửu)’ (permanent)
hoàng 皇{huáng} ‘vua’ (king)
hoặc劃{huà} ‘vạch’ (a group of travelers)
Vài thí dụ trên đây tiêu biểu cho rất nhiều hình thức thay đổi âm đầu. Dưới đây là vài thí dụ về thanh điệu của tiếng Tàu chuyển tự với nghĩa tương đương bên tiếng Việt:
2. Thay đổi vần chính:
a. Thay đổi vần chính và Việt hoá hoàn toàn thành chữ Việt:
chủ主{zhǔ}> chúa (master)
cựu舊{jiù}> cũ (old)
di 移{yí}> dời (move)
dụ誘{yòu}> dỗ (persuade, entice, tempt)
dụng用{yòng}> dùng (to use)
đình 停{tíng}>đừng, đứng, dừng, ngưng (to cease)
khai 開{kāi}>khui, khơi, khởi, mở
khuyến勸{quàng}> khuyên (advise)
lãnh冷{lěng}> lạnh (cold)
liên連{lián}> liền (continuous)
loạn 亂{luàn}>loàn, lộn, rộn, xộn, trộn’
lợi 利{lì}> lời (profitable)
phòng房{fáng}> buồng (room)
quán慣{guàn}> quen (habit, accustomed to)
thế 替{tì}> thay (substitute, change)
thệ誓{shì}> thề (to swear)
vũ舞{wǔ}> múa (dance)
b.Thay vần chữ Tàu chuyển tự kếp hợp với từ Việt:
an uỷ安慰{ānwèi} ‘an ủi’ (to soothe, comfort)
bạch mã白馬{bù} ‘ngựa bạch, ngựa trắng’ (white horse)
đả phá 打破{dǎpò} ‘đánh phá’ (to attack, to disturb)
gian nan艱難{jiānnán} ‘gian khó’ (difficulty)
hoả xa 火車{huǒchē} ‘xe lửa’ (train, locomotive)
lục đậu 綠豆{lǜdòu} ‘đậu xanh’ (mung bean)
ngoại quốc 外國{wàiguó} (nguyên là quốc ngoại) ‘nước ngoài’ (foreign country)
nhân loại 人類{rénlèi} ‘loài người’ (human being)
pháp tắc 法則{fǎzé} ‘phép tắc’ (principles, rules)
phụ hoà 附和{fù hè} ‘phụ hoạ’ (to speak in concert)
tái lập 再立{zàilì} ‘lập lại’ (to restore)
thấp độ 濕度{shīdù} ‘độ ẩm’ (humidity)
thù hận 仇恨{chóuhèn} ‘thù hằn’ (hatred, resentment)
trường độ 長度{chángdù} ‘độ dài’ (the length)
vị hà 為何{wèihé} ‘vì sao’ (why)
vô cố 無故{wúyì} ‘vô cớ’ (unreasonable)
c.Thay đổi chữ Tàu chuyển tự cả âm lẫn cách sử dụng:
hải quan 海關{hǎiguān} ‘cửa biển’ (customs) >quan thuế, thuế quan
hiển thị顯示{xiǎn shì} ‘bày ra thấy’ (easy to see, appear) >bày ra, hiện ra
hộ chiếu 護照{hù zhào} ‘giấy đi đường’ (passport) >thông hành
kết hôn 結婚{jiéhūn} ‘kết hôn’ (get married) >lập gia đình, lấy vợ, lấy chồng, kết hôn
liên hệ 聯繫{liánxì} ‘kết chặt’ (contact)>sự ràng buộc không thể cắt đứt: liên hệ gia đình (family relationship)
mô phỏng 摹仿{mó fǎng} ‘bắt chước’ (adapt) >mô phỏng, bắt chước, học theo
nhận thức 認識{rèn shi} ‘nhận thức’ (realize) >nhận rõ, biết, quen
quan chức 官膱{guān zhí} ‘người làm cho chính quyền’(government official) >viên chức, nhân viên
trợ lý 助理{zhùlǐ} ‘giúp quản trị’ (assistant) >phụ tá
vị đạo 味道{wèidào} ‘nếm’(taste) >mùi vị ‘ngửi và nếm’
xuất khẩu 出口{chū kǒu} ‘ra khỏi nước’ (export) >xuất cảng

VIỆT HOÁ VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ PHÁP
1. Việt hoá từ ghép theo thứ tự tiếng Việt
Trong nỗ lực du nhập có chọn lựa, chữ Việt chỉ dùng một phần nhỏ trong các nghĩa của chữ Tàu chuyển tự dung chứa. Sau đây là một vài cách tiêu biểu.
a.Thay đổi vị trí của chữ ghép: Việt và Tàu chuyển tự theo phong cách tiếng Việt: Ở điểm này, tiếng Việt dựa trên lý âm dương (ina-dang), tầm quan trọng và lẽ tự nhiên. Thí dụ: vợ chồng, cây cỏ, ruộng vườn, vuông tròn, …
đạo điền稻田{dàotián} ‘lúa đồng’ (rice paddy) >đồng lúa (field of rice)
hoa viên花園{huāyuán} ‘bông vườn’ (flower garden) >vườn hoa (garden of flowers)
nam nữ 男女{nánnǚ} ‘trai gái’ (boy& girl) >gái trai (girl and boy)
ngữ ngôn 語言{yǔyán} ‘tiếng nói’ (language) >ngôn ngữ
phu thê夫妻{fūqī} ‘chồng vợ’ (husband & wife) >vợ chồng (wife&husband)
thảo mộc草木{cǎo mù} ‘cỏ cây’ (grass & tree) >cây cỏ (trees and grass)
thổ địa 土地{tǔdì} ‘vùng đất’ (land) >đất đai (land of all types)
b. Thay đổi thứ tự trong một mệnh đề: Theo quy luật ngữ pháp tiếng Việt, chữ chính đứng trước và các chữ bổ nghĩa đứng sau; lối này ngược với tiếng Tàu. Thí dụ: Công thương ngân hàng >ngân hàng công thương.
đại nhân thủ hạ 大人手下{dàrén shǒu xià} ‘người thế lực tay dưới’ (an influential figure’s subordinates) >thuộc hạ dưới tay của người có thế lực’
lâu trung quả phụ 樓中寡婦{lóu zhōng guǎfù} ‘giữa lầu đàn bà goá’ (a widow in the house) >người đàn bà goá ở trên lầu
liễu hạ lộc minh 柳下鹿鳴{liǔxià lùmíng} ‘dưới cây liễu nai kêu’ (the deer cries under the willow tree) >nai kêu dưới gốc liễu
nhục hình hữu tứ 肉刑有四{ròuxíng yǒusì} ‘hình phạt đau đớn có bốn’ (four forms of torture) >có bốn hình phạt làm đau đớn thể xác (mặc ‘thích chữ trên mặt bôi sơn để mọi người thấy’, nghị ‘cắt đứt mũi’, phị ‘cắt chân’, cung ‘thiến giái’)
phản loạn tội án 反亂罪案{fǎnluàn zuìàn} ‘chống lại làm loạn mang tội bị kêu án’ (committing reactionary crime) >bị kêu án về tội phản loạn
sàng thượng bệnh nhân床上病人{shàngchuáng bìngrén} ‘trên giường bệnh nhân’ (a sick person in bed) >người bệnh nằm trên giường
thuỷ thượng tiểu chu 舟{shuǐshàng xiǎozhōu} ‘trên nước thuyền nhỏ’ (small boat afloating on the water) >thuyền nhỏ nổi trên nước
Việt Nam dân tộc 越南民族{yuènánmínzú} (Vietnamese people) >dân tộc Việt Nam
2. Việt hoá thành ngữ để có thể diễn tả thêm phong phú
Từ hình thức trên tiếng Việt còn du nhập khá nhiều thành ngữ theo lối chữ Tàu chuyện tự vào kho tàng văn hoá Việt Nam. Trong số có ba hình thức: giữ nguyên, pha trộn với tiếng Việt và Việt hoá hoàn toàn:
a. giữ nguyên cách diễn đạt về ý, nghĩa và cấu trúc của thành ngữ:
ác giả ác báo 惡者惡報{èzhe ebào} ‘làm ác trả ác’ (a blow for a blow) >người làm ác thì nhận quả báo
an bần lạc đạo 安貧樂道{ānpín lèdào} ‘nghèo yên ổn vui đường đạo’ (to live a poor but safe and happy way) >sống nghèo mà an vui
an cư lạc nghiệp 安居樂業{ānjūlèyè} ‘sống yên vui nghề’ (settle down, build career) >sống yên ổn vui vớinghề
bách niên giai lão 百年皆老{bǎiniánjiēlǎo} ‘trăm năm đều già’ (long-lived connubial bliss) >trăm năm sống đời với nhau
bài binh bố trận 排兵佈陳{páibīngbù chén} ‘sắp xếp lính bố trí trận đánh’ (to deploy a troops of soldiers) >bố trí lực lượng để sẵn sàng chiến đấu
bình an vô sự 平安無事{píngān wúshì} ‘bình yên không sự gì xảy ra’ (safe and sound) >mọi sự được yên ổn
cẩn tắc vô ưu 慬則無憂{jǐnzé wúyōu} ‘thận trọng theo nguyên tắc thì không sợ’ (caution is the root of peace of mind) >cẩn thận thì không lo lắng
cốt nhục tương tàn 骨肉相殘{gǔròuxiāngcán} ‘xương thịt cùng hại nhau’ (fratricidal war) >anh em giết nhau
danh bất hưtruyền名不虚傳{míngbùxūchuán}‘tên không truyền trống không’ (well-deserved reputation) >tiếng đồn không ngoa
khẩu phật tâm xà口佛心蛇{kǒufú xīnshé} ‘miệng Phật lòng rắn’(a devil’s sweet talk)
lực bất tòng tâm力不從心{lìbùcóngxīn} ‘sức không theo lòng’ (the will is strong but the meat is weak) > muốn mà không làm nổi
môn đương hộ đối門當戶對{méndāng hùduì} ‘cửa nhà tương xứng’(good match of two wealthy families) >môn đăng hộ đối (nhà gái và nhà trai phải tương đồng về thành phần xã hội)
phi thương bấtphú非商不富{fēishāngbùfù} ‘không buôn bán không giàu’ (doing business may bring in wealth)
quân tử nhất ngôn君子一言{jūnziyīyán} ‘người được tôn vinh một lời’ (an honest person keeps his words) >người đàng hoàng nói một là một
quốc hồn quốc tuý國魂國粹{guóhún guócuì} ‘hồn nước cái tinh của nước’(the national soul and quintessence)>tinh thần và cái tinh anh của một nước
tương kế tựu kế相計就計{xiāngjìjiùjì} ‘dùng kế thành kế’ (calculated on the total of a tooth for a tooth)>dùng kế đối thủ đánh lại đối thủ
xưng hùng xưng bá稱雄稱霸{chēngxióngchēngbà} ‘tự xưng mạnh tự bắt người theo’ (to proclaim oneself leader of the vassals) >dùng sức mạnh bắt nạt người khác
b. pha trộn thành ngữ chữ Tàu chuyển tự với tiếng Việt để có thành ngữ mới hoặc tương đương:
ái ốc cập ô 愛屋及烏{àiwū jíwù}‘yêu nhà yêu cả con quạ trên nóc nhà’ (love me love my dog) >thương người thương cả đường đi
bán sinh bán tử半生半死{bànshēng bànsǐ} ‘nửa sống nửa chết’ (half-live half dead) >bán sống bán chết
chỉ thượng đàm binh 紙上談兵{zhǐxiàng tánbīng} ‘chỉ giấyluận binh’ >(impractical military officer) đánh giặc bằng mồm
cửu hạn phùng cam vũ 久旱逢甘雨{jiǔhàn féng qānyǔ} ‘’ (a long drought rain) >nắng hạn gặp mưa rào (a good opportunity for a desperate plight)
đắc thời đắc thế 得時得勢{déshí déshì} ‘được thời được thế’ (time for the potential) >cờ đã đến tay
dĩ độc trị độc 以毒制毒{yǐdú zhìdú} ‘lấy độc chống độc’ a dose of her own medicine) >lấy độc trị độc
dĩ đức vi tiên 以德為先{yǐdé wéixiān} ‘lấy đức làm trước (one’s virtue shapes his life) >lấy đức làm đầu
dĩ kỷ đạc nhân 以己度人{yǐjǐ dùrén} ‘’ (to judge others by one own last) >suy bụng ta ra bụng người
độc mộc bất thành lâm 獨木不成林{dúmù bùchéng lín} ‘một cây không thành rừng one single tree can’t make a forest) >một cây làm chẳng lên non
hàm huyết phún nhân 含血噴人{hánxiě pēnrén} ‘’ (to lay a crime at someone’s door) >ngậm máu phun người
hoạ xà thiêm túc 畫蛇添足{huàshé tiānzú} ‘vẽ rắn thêm chân’ (an excess is unnecessary for a particular end) >thừa giấy vẽ voi
khi nhân thái thậm 欺人太甚{qīrén tàishén} ‘khinh người thái quá’ (to overly look down one’s nose at others) >khinh người quá đáng
manh nhân mô tượng 盲人摸象{mánrén mōxiàng} ‘người mù sờ voi’ (hasty judge a book one has not read) >không biết mà đoán mò
ngoạ tân thưởng đảm 臥薪賞膽{wòxīn shǎngdǎn} ‘nằm trên củi hưởng mật’ (to endure all kinds of hardships) >nằm gai nếm mật
tửu nhập ngôn xuất 酒入言出{jiǔrù yánchū} ‘rượu vào lời ra’ (a drunkard knows not what he says)>rượu vào thì lời ra
c. Việt hoá hoàn toàn – trong phần này, tiếng Việt có thành ngữ tương dương với ý của tiếng Tàu chuyển tự:
chỉ lộc vi mã 指鹿為馬{zhǐlù wéimǎ} ‘point at the deer talk about the horse’ (double-dealing behavior) >đổi trắng thay đen
duật bạng tương tranh 鷸蚌相爭{yùbàngxiāngtóng} ‘cò trai tranh nhau’ (the kingfisher and the clam grip each other) >trai cò quắp nhau (ngư ông hưởng lợi)
đả thảo kinh xà 打草驚蛇{dǎcǎo jīngshé} ‘disturbing the grass would scare the snake ’>bứt dây động rừng
hoạ tòng khẩu xuất禍從口出{huòcóng kŏuchū} ‘disasters are from the mouth’ >vạ mồm vạ miệng
hữu khẩu vô tâm 有口無心{yǒukǒu wúxīn} ‘’ >ruột để ngoài da
kiến dị tư thiên 見異思遷{jiànyìsīqiān} ‘grass is greener beyond the hill’ >đứng núi này trông núi nọ
lâm khát quật tỉnh臨渴掘井{lín kě jué jǐng} ‘đến khát khai giiếng’ (to act at the last minute)>nước đến chân mới nhảy
lễ bạc tâm thành 禮薄心誠{lĭbó chéngxīn} ‘lễ ít lòng thành’ (don’t look the gift horse in the mouth) >của ít lòng nhiều
lương dữu bất tề 良莠不齊{liángyǒu bùqí} ‘cỏ tốt chẳng ngay ngắn’ (the good and the bad altogether)>vàng thau lẫn lộn
nam ngoại nữ nội 男外女内{nánwài nǚnèi} ‘boy outside girl inside’ (husband makes house, wife makes hom) >của chồng công vợ
ngật lý bà ngoại 吃里爬外{chīlì páwài} ‘eat jambos protect racemosa) ‘a behavior of a disloyal person)’ >ăn táo rào sung
nhân dục vô nhai 人慾無涯{rényù bùyá} ‘người muốn không bờ’ (one’s desire is limitless)>lòng tham không đáy
phụ trái tử hoàn 父債子還{fùzhài zǐhuán} ‘father owes debt son repays’ (father eats salty food, son feels thirsty)>cha ăn mặn con khát nước
thảo mộc giai binh 草木皆兵{cǎomù jiēbīng} ‘cỏ cây đều là lính’ (to believe that the moon is made of green cheese) >trông gà hoá cuốc
thủ chu đãi thố 守株待兔{shǒuzhū dàtù} ‘canh cây chờ thỏ’ (to expect a fortune without any exertion) >há miệng chờ sung
Chưa thoả mãn với hình thức chuyển tự, người Việt thuộc giới Nho sinh uyên bác đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng trực tiếp của người Tàu nên đã sáng chế ra chữ Nôm. “Nôm” nghĩa là nói theo lối đơn giản, bình dân “nói nôm na”. Các trang dưới đây làm phần so sánh sơ lược về cách viết và đọc giữa chữ Tàu chuyển tự và chữ Nôm, để sau đó dần dần được thay thế bằng chữ quốc ngữ như hiện nay.

CHỮ NÔM
Chữ Nôm là thứ chữ các học giả người Việt đã áp dụng những yếu tố của chữ Tàu để diễn tả cách nói của người Việt. Chữ Nôm đóng vai trò rất quan trọng trong nỗ lực duy trì văn hoá của người Việt nhất là về phương diện ngôn ngữ và văn chương.
Muốn thạo chữ Nôm, người dùng phải biết rành chữ Tàu. Do vậy, có thể nói chữ Nôm khó hơn chữ Tàu nên kể từ khi có chữ quốc ngữ, chữ Nôm hầu như bị lãng quên. Những tác phẩm nổi tiếng như Cung Oán Ngâm KhúccủaÔn Như Hầu; Kim Vân Kiều, Nguyễn Du; Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu; Nhị Độ Mai, khuyết danh; Phan Trần, khuyết danh; Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, v.v.. đều viết bằng chữ Nôm.
Hình thức chữ Nôm có hai phần: phần âm và phần nghĩa. Thông thường phần nghĩa đi trước và phần âm theo sau nhưng cũng có vài trường hợp ngược lại:
Dưới đây là một số thí dụ về chữ Nôm:
anh (em) 偀 = 人nhân + 英 anh ‘các loài hoa’ (người + anh = anh)
bà (lão) 婆 = 女nữ + 波 ba ‘sóng nhỏ’ (nữ + ba = bà)
chân (tay) 蹎 = 足 túc + 眞chân (thành)
chồng (vợ) 夫重 = 夫phu + 重trùng (lặp lại)
dạy (dỗ)𠰺 = 口khẩu + 代đại (thay thế)
đa (cây)栘 = 木mộc + 多đa ( nhiều)
đá (sỏi) 𥒥 = 石thạch + 多đa
đến (nơi) 至旦 = 至chí + 旦đán
gạch (ngói) 𥗳 = 石 thạch ‘đá’ + 額ngạch
giòng (nước) 𣳔 = 水thuỷ + 用dụng (dùng)
hai(số 2)𠄩 = 台đài + 二nhị (hai)
hay (dở) 咍 = 口khẩu + 台đài
khói (lửa) 𤌋 = 火 (hoả ‘lửa) + 塊khối
lử (mệt) 𠢬 = 無(vô) + 力lực
năm (5) 五年 = 五năm + 年niên (năm tháng, tuổi)
năm (tháng)男年 = 男nam + 年niên
nôm (na)喃 = 口khẩu + 南nam (hướng)
ra (khỏi) 𦋦 = 羅 (la) + 出xuất
rủi (ro) 㩡 = 手thủ + 㩡 lỗi
sáu (6)” 𦒹 = 老 ‘lão’ + 六 ‘lục’
sông (nước) 瀧 = 水thuỷ + 龍long
thương (mến) 愴 = 心tâm + 倉thương
trăm (100) 百林 = 百bách + 林lâm (rừng)
trời (cao) 𡗶 = 天(thiên) + 上thượng
việt (ưu) 越 = 走vượt + 戉việt (rìu) (tên gọi Việt Nam ngày nay)
vợ (chồng) 𡞕 = 女nữ +備 bị
với (ai) 唄 = 口khẩu + 貝bối
Ngoài các chữ ghép hai, còn khá nhiều chữ ghép ba trong chữ Nôm. Điều này cho thấy tiếng Việt ngày xưa không có dấu thanh như ngày nay:
lời (nói) 𠅜 = 麻‘ma’ + 例‘lệ’ + 亠 “ời”: hai chữ “ma” và “lệ” dùng để thay cho mẫu tự ghép “ml” và phần giản lược 亠 thành âm “ời”
trăng (sao) 𣎞 = 巴 ‘ba’ + 夌 ‘lăng’ + 月‘nguyệt’ (chữ trăng nằm trong số khó nhất vì phải qua nhiều giai đoạn biến âm: 𣎞 có ba chữ hợp lại vì ngày trước không nói trăng mà nói blăng nên ‘ba’ và ‘lăng’ ‘hợp lại thành âm [bl]. Saun này trở thành giăng > trăng)
tròn (trịa) 𧷺 = 圓‘viên’ với bộ vi囗 nhưng sau đó bỏ đi để còn 員 hợp với chữ 侖 ‘lôn’, biểu thị cho “l” của phụ âm kép {tl} và phần vần của từ “tlòn”.
Trên đây là những nét đại cương về cách sử dụng chữ Tàu chuyển tự trong đó nỗ lực “thoát Tàu” luôn luôn là yếu tố then chốt được ông cha của con cháu người Việt theo đuổi. Nỗi lực đó bắt đầu từ cách biến cách nói của người Tàu thành cách nói của người Việt, dần dà sang thay đổi cách viết dựa trên chữ Tàu để trở thành cách viết riêng của người Việt.
Cuối cùng chữ quốc ngữ đã hoàn toàn xoá hẳn vết tích chữ Tàu về phương diện chữ viết. Chúng ta cần noi gương tiền nhân bằng cách sử dụng ngôn ngữ mình sao cho trong sáng.

PHỤ LỤC – BẢN LIỆT KÊ MỘT SỐ CHỮ TÀU CHUYỂN TỰ

(phỏng theo tài liệu của TS Nguyễn Hữu Phước)
Sau đây là bảng liệt kê những chữ Việt Tàu (kể cả những chữ đã dùng ở các đoạn bên trên theo thứ tự A,B,C. Còn có một số chữ khác những chữ trong bài, vì ít dùng, hay ít phổ quát, nên chúng tôi không nhận ra. Lưu ý: các từ-ngữ dưới đây được “chuyển” theo giọng Quảng Đông. Mong quý vị bổ túc giùm chúng tôi xin đa tạ.
Bạc = trắng (HV: bạch); vàng bạc; trắng như bạc.
Bảo kê葆 家 (TC = bảo đảm bồi thường thiệt hại theo khế ước thoả thuận. Bảo kê nhân thọ, bảo kê xe cộ, bảo kê sức khoẻ v.v.
Bín 辮 = bện lại với nhau như tóc thắt bín hay giác bín (HV: biện).
Bò bía薄 缾 (TC) = bánh tráng bột gạo hoặc bột mì, bọc nhưn (củ sắn đã xào chín, tôm khô nhỏ, lạp xưởng mỏng đã luộc chín, đậu phộng rang).
Bò hó náng (TC) 不 好人= người không tốt; (QĐ: mậu hẩu dành; HV: bất hảo nhơn).
Bố cáo佈 告 = bố cáo, thông cáo.
Bố tời (bao) 布 袋 = bao vải bằng bố, ngày xưa thường dùng làm bao đựng 100 kí lô gạo. (HV: bố đại, đại là cái bao: bố tời theo nghĩa Hán Việt là “bao bố”).
Cai戒 = chừa bỏ món đã ghiền, (HV: giới), như cai thuốc.
Cánh chỉ (QĐ đọc cá-ying chi 嘉應子, HV: gia ứng tử = cũng là một loại kẹo trái cây).
Cảo 絞 = vặn xoáy ra (thường là vặn theo chiều ngược). Động từ cảo thường do các thợ máy dùng.
Cấy雞 = gà; bạc cấy 白 雞 = gà trắng tức là gà luộc; dìm cấy = gà ướp muối, xì dầu cấy = gà ướp nước tương, xáo cấy = gà xào; cấy báo = bánh bao nhưn thịt gà.
Cô 姑 = cô = em hay chị của người cha. Cô dượng 姑丈 = dượng (chồng của cô).
Cón 光 (cón = láng) dân ta xài các từ ghép láng cón = thật láng, sạch cón = hết sạch, không còn chút gì, thật sạch.
Cống hỉ phát xồi恭 喜 發 財 = cung hỉ phát tài. Lời chúc đầu năm tương đương với “cung chúc tân xuân” của VN.
Cu ki自己 = một mình không ai giúp, đơn độc; HV: tự ký. Sao lúc nào anh cũng cu ki vậy?
Cú lũ高 佬 = anh cao (HV: cao lão).
Cù lũ孚 擄 = tù binh; cù lũ còn là tên một mẫu trong bài “xập xám” (bài 13 lá), hay phé (bài 5 lá) của Tàu. Mẫu nầy gồm gồm ba lá bài giống nhau đi chung với một đôi. (Mẫu bài gồm 5 lá bài).
Cũ xì古 時 = rất là cũ xưa (HV: cổ thì)
Chành棧 = (HV: sạn) = kho chứa lúa hay gạo.
Chạp phô (TC = tiệm, cửa hàng) 雜 貨 (HV: tạp hóa) = tiệm hàng xén, bán những vật cần dùng trong nhà.
Chay齋 = kiêng thịt; xực chay受 齋 = ăn chay = ăn cơm với rau cải thôi; HV: thọ trai.
Ché (TC) hay chế (Q Đ) 姊 = chị, HV: tỷ.
Chí dục猪肉, HV: trư nhục = thịt heo. Hàm dũy chứng chí dục = cá mặn chưng thịt heo (một món mặn phổ thông của người QĐ).
Chí quách猪骨, còn gọi là xí quách = xương heo (hầm).
Chía 食 (TC) = ăn. Anh ấy chía một hơi hai dĩa bánh cuốn.
Chệc hay chi-ệc 叔 (TC) = chú = em của cha, hoặc là tiếng gọi một người lớn, nhưng nhỏ tuổi hơn cha mình, (HV: thúc).
Gọi người Triều Châu bằng chữ “chiệc” là bình thường. Họ vui vẻ đón nhận cách xưng hô đó. Nhưng các nhóm dân TH khác ở VN không thích chữ nầy. Họ coi chữ nầy là không kính trọng khi dân VN dùng chữ nầy để chỉ tất cả người TH. Ngoài ra, dân ta còn dùng chữ cắc chú (do chữ khách trú 客 住 nói trại ra), hay chữ “ba tàu” hoặc “anh ba”, để gọi hay chỉ người TH. Hai chữ sau nầy, người Hoa ở VN cũng không vừa lòng mấy.
Tuy nhiên, như đã nói, khi chúng ta gọi nước TH hay người TH bằng từ ngữ “Tàu” (viết hoa = capital letter) thì đó chỉ là một thói quen do lịch sử mà thôi. Trong văn nói hay trong văn viết, từ ngữ “TH” và “Tàu” thường được dùng lẫn lộn, không hề có ý nào khác.
Việc gọi TH là Tàu cũng giống chúng ta cũng gọi Korea là Hàn quốc, Triều Tiên hay Đại Hàn, và United Kingdom là nước (và người) Anh, Ăng Lê, hay Vương Triều Anh Cát Lợi, và United States of America là Hiệp Chúng Quốc, Hoa Kỳ, Mỹ hay xứ (người) Cờ Hoa v.v.
Trong ca dao VN ngày xưa, lúc Tây có quyền và Tàu có tiền ông bà ta có khuyên các cô gái VN nên chọn người VN hiền hậu, có nhân nghĩa:
Lấy Tây lấy chiệc làm gì
So bề nhân nghĩa, sao bì An Nam.
{(Hồi nhỏ sống trong một xóm có cả người Việt lẫn người Tàu Quảng Đông và Triều Châu, chúng tôi thường nghe các em bé VN trêu chọc mấy em bé QĐ và TC bằng những câu sau đây:
Xẩm* lai, xẩm lai, thường hay thường hay
Ngồi đái gốc xoài, bị phạt đồng hai.
Hoặc “Cắc chú” lai ăn khoai sình bụng
Triều châu dành* ăn vụng chảy re.
Hay là: Cắc Chú, Thím Xẩm, Ba Tàu
Người nào cũng như người nấy
Luôn luôn trong mình có giấy,
Kiếm cách để đi về Tàu.)}
(*xẩm = thiếm, người đàn bà Tàu; dành = người)}
Da 爺 = hay gia (tiếng gọi cha hay gọi người lớn: gia gia).
Dách (一) = một (HV: nhứt). Số dách = xố một, đứng đầu. Dà dách廿一, một loại bài khi được số tổng cộng cao nhứt là 21 (HV: nhập nhứt). Nếu nhà cái được 21 thì sẽ ăn tất cả tay con, trừ người có 21 thì huề nhau. Nhưng nếu nhà cái kéo thêm mà quá 21 thì gọi là quắc. Trường hợp nầy nhà cái chung tiền cho tất cả tay con, trừ tay con nào bị quắc.
Dách lầu 一 硫 = hạng nhất; (HV: nhất lưu). Dách lầu mậu phô一 硫 旡 貨 = hạng trên hết không có gì bằng (HV: nhất lưu vô hóa = thượng hảo hạng).
Dành 人 = người (HV: nhân); mậu hẩu dành = người không tốt.
Dầu油 = chất béo từ động vật (mỡ), hay từ thực vật (dầu). Như mỡ bò, dầu ô liu v.v.
Dầu chá quảy 油 炸 鬼hay dầu chá cối 油 炸 檜 = một loại bánh bột mì gồm hai miếng dính lại và chiên trong dầu thực vật hay trong mỡ (động vật); xem chi tiết ở phần ăn uống).
Dì 姨 = dì = em hay chị của người mẹ. Dì dượng 姨 丈 = dượng (chồng của của dì).
Dụ khị = nói thế nào cho người khác tin mình (khị = nó).
Dương châu xáo phàn = cơm chiên Dương châu.
Đầu nậu頭 腦 = người đứng đầu một chuyện gì hay một nhóm người khác (HV: đầu não).
Đĩa 碟 (QT) = cái dĩa (chén).
Đinh 釘, HV cũng đọc đinh = cây đinh. Trường hợp trùng âm.
Độc huyền cầm (HV) 獨 弦 琴 (Quảng Đông: tộc huyền cầm) = đàn một dây, còn gọi đàn bầu. Ca dao: Làm thân con gái chớ mê đàn bầu. Trường hợp trùng âm HV/QĐ.
Giá (do chữ Thầu giá của TC; HV: đậu nha) = mầm đậu.
Há cảo 蝦 鮫 = bánh (nhưn) tôm.
Hắc ín 黑 胭 = loại nhựa đen dùng trộn với đá xay nhỏ để trải đường còn gọi là dầu hắc; HV: hắc yên.
Hàm bà lằng (TC) = tất cả, toàn bộ; biến nghĩa của chữ nầy là “đủ thứ” (vật dụng từ a đến z) như chữ “thập cẩm”.
Hàu xì 蠔 豉 = con nghêu hay con hào phơi khô.
Hầu bao 荷 包 = cái ví hay cái “bóp” đựng tiền hay đựng giấy tờ quan trọng.
Hẩu xực = ăn ngon; HV: hảo thực, TC: hó chéc.
Hẹ 客 = “khách”: tên một chủng tộc xưa ở trung nguyên TH. Họ đã di cư đến Quảng Đông, Phước Kiến, nên người QĐ gọi họ là “khách”. Ở VN cũng có người Hẹ.
Hò, xử, xang, xe, cống, líu = 何 士 上 尺 工 六 = tên các bậc âm trong cổ nhạc (HV: hà, sĩ, thượng, xích, công, lục).
Hoành thánh 雲 吞 = thức ăn sáng bằng thịt heo (có khi trộn thêm tôm và vài món khác), xem chi tiết ở phần ăn uống.
Hộp 盒 = vật dùng để đựng. Ăn ở tiệm, còn dư thực phẩm có thể xin hầu bàn “lượng cơ hộp” = hai cái hộp để đem thức ăn dư về.
Hồng tầu xá紅 豆 沙 = chè đậu đỏ (HV: hồng đậu sa). Chữ hồng: Trường hợp trùng âm HV/QĐ.
Hủ tíu 棵 條 (TC đọc quẻ tíu; HV: qua điêu) = chỉ chung thức ăn gồm có bánh phở, thịt heo hay các loại thịt, cá, nấu theo kiểu Tàu.
Hui nhị tỳ 去 義 地 = về nghĩa địa = chết, HV: hồi = về.
Hương liệu = các gia vị có mùi thơm, HV cũng đọc hương liệu, trường hợp trùng âm HV/QĐ.
Kỉ tố 幾 多 = bao nhiêu.
Lạp chạp (TC) = lộn xộn.
Lạp xưởng 臘 腸 (HV: lạp trường) = dồi thịt heo.
Lẩu 爐 = món canh kiểu TH (chi tiết ở phần ăn uống).
Lậu = đọc gọn của chữ phá lậu pèng 花 柳 病 = một loại bịnh truyền nhiễm qua giao hợp. HV: hoa liễu bệnh.
Lè phè (QĐ đọc “lẹ phẹ”) = không tỏ ra siêng năng, hay quan trọng, chỉ làm cho có. Người lè phè sống qua ngày.
Lì xì 利 息, giọng HV: lợi tức. Hiểu theo nghĩa bình thường là “tiền lời” hay thu nhập, nhưng lì xì trong ý nghĩa quà tặng đầu năm được hiểu là “điềm có lợi” hay “dấu hiệu có lợi”, chữ tức ở đây là tin tức hoặc điềm. Tiền lì xì = tiền cho người khác, thường để trong giấy đỏ, tiền cho trẻ em ngày Tết.
Lộ (QT & HV) 路 = đường đi, lộ. (trường hợp trùng âm).
Lụ mụ 佬 母 = lão mẫu = mẹ già; nghĩa bóng: chậm chạp, thiếu sáng suốt.
Lục tầu xá 菉 豆 沙 (HV: lục đậu sa) = chè đậu xanh. Chữ lục: trường hợp trùng âm Q Đ/HV.
Lứ (TC) 你, HV: nễ = mầy, anh, chị (ngôi thứ ba, gọi người ngang hàng); hóa (Wá) = tôi, qua.
Mại 買= mua. Đây là tiếng “mại” của QĐ. Chữ “mại”= mua của QĐ tiếng HV đọc là “mãi”. (Trong khi đó chữ “mại” của HV lại có nghĩa “bán” như “mại danh = bán danh tiếng, mãi danh = mua danh, mại mãi = bán buôn.)
Mại bản 買 辦: người thay mặt hãng buôn lớn giao dịch vơi người ngoài. HV đọc “mãi biện”. Trong số từ ngữ Tàu (TC) được thông dụng ở miền Nam có từ Mái Chính (HV: mãi tấn), là người tổ chức mua hàng, ngày nay ngang với chuyên viên thu mua. Bên cạnh đó còn chuyên viên mãi biện, mãi bản tức người môi giới, tổ chức, bán vé trong ngành chuyên chở bằng tàu bè (comprador).
Mạt chược 麻 雀 = tên một loại bài của người Tàu. Có một số dân VN cũng thích chơi loại bài nầy; Người ta thường nói “xoa mạt chượt” (dùng hai tay xáo trộn những cây bài trước khi phân chia cho những người chơi bài.).
Mì 麵 = tiếng đọc trại của chữ “mìn” = bột lúa mì có pha trứng, màu vàng, cắt sợi nhỏ. Luộc chín và dùng với nước lèo và thịt heo hay hải sản.
Mũ 帽 = nón (đội đầu che nắng).
Múi hay muội 妹 = em gái, bạn học nhỏ hơn mình; tiểu muội, học muội. HV = muội.

Nạm = bụng; dân ta xài chữ “thịt bò nạm” để chỉ loại thịt bò lóc từ sườn bò ra, có một lớp mỡ dính sát vào lớp nạt; loại “thịt nạm” nầy thường dùng nấu bò kho, phở tái nạm, hay chín nạm.
Nị 你, HV: nễ = ông, bà, anh, chị, mầy, cô, chú, dì, dượng v.v. (tiếng xung hô, ngôi thứ hai, dùng như chữ “you” của Ăng-lê); TC: lứ
Ngám = vừa đúng theo kích thước; “vừa ngám” = vừa y, vừa triến, vừa vặn. Ngầu牛: 1. = bò; ngầu dục = thịt bò (HV: ngưu); ngầu píl là dương vật của bò, các tiệm phở có bán cho người thích ăn gân, hay người thích nhậu. 2. = hung dữ, quạu quọ, khó tánh.
Ngộ 我 = tôi, tao, qua, ông, chú, bác, cha , mẹ v.v. (tiếng xưng hô, ngôi thứ nhất dùng giống như chữ “I ” của Ăng-lê; HV: ngã; TC: u-á ; QT: wá.
Nhẩm xà飲 茶 = uống trà (HV: ẩm trà). Chi tiết ở phần “ăn uống”.
Pha = sợ; trong bài phé, pha là chịu thua, không thêm tiền vào nữa.
Phá lấu打鹵 (TC) = lòng heo ướp hương liệu, xì dầu và đem um.
Phàn飯 = cơm; (HV: phạn); xực phàn = ăn cơm (HV: thực phạn); bạc phàn 白飯 = cơm trắng (HV: bạch phạn). Xảo phàn =cơm rang.
Phay塊 = mảnh vụn hay miếng mỏng. Thịt phay = thịt heo luộc cắt thành lát mỏng; gà xé phay = gà luộc xé thành miếng nhỏ trộn với rau răm và các loại rau khác (tùy ý thích của từng nhà).
Ca dao có câu:
Gà cồ ăn quẩn cối xay,
Rau răm muối ớt xé phay gà cồ.
Có thể “dao phay” (dao lớn để chặt xương hoặc cắt thịt) cũng do chữ “phay” nầy của QĐ mà ra.
Phé = cà phê.
Phì lủ 肥 佬 = anh mập.
Phì phà chảy琵 笆 仔 = ca nhi, cô hát. Nghĩa khác là gái điếm.
Phóng xủi 風 水 = gió, nước (HV: phong thủy) = chữ chỉ về việc phương hướng, địa thế đất đai. Thầy phóng xủi còn được gọi là thầy địa lý sống bằng cách coi xem phương hướng, địa thế coi có hạp với người cần làm một việc gì.
Phổ ky伙 記 = người hầu bàn (bồi bàn) trong tiệm ăn hay nhân viên bán tiệm tạp hóa. HV: hỏa ký. Phổi tai海 帶 = rong biển. Xem chi tiết ở phần “Ăn uống” bên trên
Phúc 福 (HV: phúc/phước) = phước; hạnh phúc, phúc hậu.
Qua我 (HV: ngã) = tôi. Xem chi tiết bên trên
Quảng cáo廣 告 = quảng cáo, trường hợp trùng âm.
Sâm bổ lượng清 補 涼 = một loại chè gồm một số các loại hột và rong biển. Chi tiết ở phần Ăn uống bên trên.
Sở hụi 所 費 = sở phí, chi phí.
Tả 打 = đánh; tả nị xẩy = đánh mầy (ông, anh, cô v.v.) chết. Tả pín lù打 邊 櫨 = tên khác của lẩu, (chi tiết ở phần “ăn uống”).
Tài = lớn, (HV: đại).
Tài bán 大 班 = QĐ đọc tài pán = ngưới cầm đầu = chủ sự hay người sếp (chữ Việt gốc Pháp, chỉ người cầm đầu, người chỉ huy).
Tài lũ = anh, tiếng xưng hô để gọi một người lớn hơn mình.
Tài phú大 夫 (HV: đại phu) = người lo về trông coi tiền thu, xuất.
Tài xỉu 大 小 = đại tiểu= lớn nhỏ, một loại cờ bạc.
Tài sồi = búa lớn.
Tàu vị yểu (đọc trại của chữ tàu mêi yầu豆味油 = nước chấm làm bằng tương đậu nành. Tên khác là xì dầu豉油, hay nước tương.
Tằng xại冬 菜 (TC), HV = đông thái. Đông là mùa đông, thái là tất cả những loài rau cỏ ăn được. Nghĩa rộng: tăng xại là rau cải ướp gia vị dự trử để dùng vào mùa đông. Đặc sản trung quốc tằng xại còn có tên là “cải bắc thảo”, thường dùng để ăn như một món dưa mặn, hay có thể để vào canh thịt, thịt chưng, hoặc nước lèo bò viên.
Tằng khạo (TC). Theo TS Phan Tấn Tài, “tằng khạo” hay “từng khạo” là người thông ngôn. Người từng khạo đóng vai trò người cai như cai thợ, cai phu, cai công gặt (nông nghiệp), cai thuyền. Trong thực tế, họ phải biết tiếng của chủ (TC) và sắp xếp, ra lịnh thay chủ.
Ví dụ việc làm của người “tằng khạo” của nhà máy xay lúa là có nhiệm vụ kiểm soát phu vác lúa vào và vác gạo ra, mỗi lần phu vác lúa vào nhà máy đi ngang tằng khạo thì trao cho ông một cái thẻ có sơn màu và khi trở ra vác một bao gạo thì trao cho ông một cái thẻ sơn màu khác với thẻ bao lúa. Tằng khạo chồng những cái thẻ này của từng người phu và từng màu theo hình vuông. Khi mãn giờ làm việc, tằng khạo đếm số thẻ lúa và thẻ gạo, ghi ra tổng số tiền công rồi giao cho tài phú trả tiền. Như vậy ông tằng khạo ở nhà máy xay lúa là một cai phu.
Trong “Ai Làm Được”, Hồ Biểu Chánh đã nói đến việc Phan Chí Đại làm “từng khạo”. Chí Đại có toàn quyền trên tàu đi tìm ngọc trai (có thể so sánh với chức thuyền trưởng).
Tẩy 底 = đáy hay mặt dưới của một vật (HV: “để”). Trong loại bài “phé”, tẩy là lá bài úp. Những người chơi loại bài nầy quan sát vẻ mặt của đối phương và đoán lá “bài tẩy” của đối phương để quyết định “pha” hay chịu thua, hoặc quyết định “tố” tức là để thêm tiền vào thách thức đối phương có dám thêm tiền cho bằng số hoặc thêm nhiều hơn nữa để thách thức. Nghĩa bóng của chữ “tẩy” là việc được giấu kín, hay bề mặt thực sự của một việc, không muốn người ngoài hay đối phương biết; nếu họ biết được sẽ có điều bất lợi cho người dấu tẩy.
Tẩy chay柢 制 = một cách biểu lộ sự phản đối một việc gì hay một người nào qua hình thức tránh tất cả mối liên hệ với việc hay người đó. Ví dụ chúng ta hãy tẩy chay tiệm ăn X bằng cách không đến đó ăn, vì chủ tiệm đó có thái độ kỳ thị chủng tộc trong việc mướn nhân viên, và đối với một số khách hàng.
Tẩu: do chữ yíl tẩu煙 斗 = cái ống điếu để hút thuốc.
Tía: Cha (TC & QĐ = cha, cha vợ, dượng). Chữ nầy rất thông dụng ở miệt Hậu Giang. Ca dao VN :
Con cò nó mổ con lươn,
Bớ chị đi đường (ghe lườn) muốn tía tôi không,
Tía tôi lịch sự quá chừng,
Cái lưng mốc thích cái đầu chơm bơm.
Tiệm xấm hay tiệm xâm có nghĩa là “ăn sáng” hay “ăn lót lòng”; (HV: điểm tâm), xem chi tiết ở phần ăn uống.
Tỷ弟 (TC) = em trai, còn là tên cho con trai. Thằng Tỷ năm nay được tám tuổi.
Tố 多 (QĐ, QT) = nhiều. (HV: đa) Trong bài “phé”, tố là thêm tiền để thách thức đối phương đánh theo. Nếu đối phương không theo là đối phương chịu thua. Nếu đối phương tố mà ta không dám theo (vì sợ nếu theo thì bị thua nhiều hơn) thì ta thua số tiền đã đặt ra ở những lần “tố” trước.
Tố chè 多 謝, HV: đa tạ = cảm ơn nhiều.
Tùng = lá bài được để ngửa lên trong một vòng của bài “cách tê” vì trong vòng đó nó là lá bài lớn nhất. “Tiêu tùng” là không có lá nào để ngửa. Tiêu tùng còn có nghĩa là mất hết cơ hội rồi.
Tửng 1 (TC) = đứa trẻ nhỏ như chữ thằng tửng;
Tửng 2 (Q Đ) = sang nhượng lại như: Anh tôi có tửng một căn phố thương mại gần chợ để mở tiệm cơm. Tiền tửng một cái nhà là số tiền phải đưa cho một người để họ dọn ra và người chịu “tiền tửng” sẽ dọn vào nhà đó.
Thầu kê頭 家(TC) = ông chủ, HV: đầu gia).
Thầu xáng頭 生 = người sếp, người cầm đầu của nhóm phổ ky. HV: “đầu sanh”.
Thấu cấy偷 雞 = ăn cắp gà. (HV: thâu kê). Nghĩa bóng là lừa gạt. Gạt gẫm người khác. Không thể tin ông ấy được vì thỉnh thoảng ông ta chơi trò “thấu cấy”.
Thèo lèo 甜 料 = kẹo gồm nhiều loại để chung nhau.
Thín cẩu 天 九 = tên một loại bài hình thẻ của người Tàu.
Thò lò 陀 螺= cái bông vụ, một loại đồ chơi của trẻ em. Nó cũng là một vật dụng dùng trong bài bạc.
Thồi檯 = bàn tiệc (HV: đài).
Thùng phá xảnh同 花 筍 = một con bài trong bài “xập xám”. Con bài nầy gồm năm lá cùng “một nước” (cùng loại) nhau. HV gọi là “đồng hoa duẫn”. Về bài sập xám, có hai hạng sau đây là hai con bài lớn: Nhứt “tứ quí (hạng nhất là bốn lá bài giống nhau như 4 lá ách, hay 4 lá tám), nhì “đồng hoa” (thùng phá sảnh).
Xa tế = tương có gia vị cay.
Xà bần什平 = do tiếng “chập bần” của TC = nhiều món trộn lẫn với nhau.
Gạch đá xà bần là gạch đá vụng do việc đập phá sân hay nền nhà, đổ lẫn lộn nhau thành đống. “Nồi xà bần” là nồi nấu chung nhiều món ăn dư của buổi tiệc hay của bữa ăn trước.
Xá xíu = thịt heo ram màu đỏ. Xá xíu báo = bánh bao nhưn xá xíu.
Xá lỵ = trái lê Tàu; HV: tuyết lê.
Xá xẩu 紗 綢 = loại tơ lụa màu đen.
Xẩm嬸 = thím = vợ của chú (HV: thẩm). Thí dụ: Sao chú và xẩm không dẫn em Hoa đi theo cho vui. Dân ta dùng luôn hai tiếng Việt và QĐ thím xẩm và hiểu thím xẩm là thím người Tàu, hay người đàn bà Tàu lớn tuổi.
Xập kỉ nìn十 幾 年 = chỉ vật cũ kỹ lắm rồi. {(HV:thập kỉ niên = (đã xài từ) mười năm rồi)}. Vật đã quá cũ, quá xưa.
Xây cá nại, (HV: tế gia nải) = cà phê sữa / ly nhỏ; nghĩa thứ hai là không công bằng hay là thiên vị.
Xây chừng = cà phê đen ly nhỏ. Xây lũ cố細 佬 哥 = em nhỏ, thằng nhỏ. Xế車 = xe. Tài xế = người lái xe.
Xê cố雪 糕 = kem lạnh (cà rem); HV: “tuyết cao”.
Xí í-léo死 了(TC) = chết; (HV:tử liêu); VN đọc trại thành xí lắt léo.
Xí muội 酸 梅 = một loại kẹo (mứt) trái cây, nhiều vị mặn hơn ngọt, HV đọc là toan mai sau nầy thành ô mai)
Xí mứng 四 門 (TC) = bốn cửa, HV: tứ môn. Nghĩa bóng là dùng kế, hay phương cách làm người khác thi hành theo ý mình và có lợi cho mình. Thí dụ: Anh đó chơi “cú xí mứng” đễ dụ mầy hùn vốn (mượn tiền) cho ảnh làm ăn.
Trong võ Thiếu Lâm, bài tập vỡ lòng cho võ sinh là bài xí mứng, tập đánh 4 mặt.
{(Trong quyển Người Mỹ ưu tư, học giả Hồ Hữu Tường (1), khi viết về việc chánh phủ Sài gòn dẹp vụ “hỗn loạn” ở Đà Nẳng có giải thích:
“Những người Việt chúng ta, hay xem các cuộc đấu võ, ắt biết rằng chánh phủ trung ương đánh đường quyền “xí mứng”. . phá cái trận có 4 cửa. Cửa thứ nhất do tướng Nguyễn Chánh Thi . . .thủ. Cửa thứ hai do các đảng chánh trị quốc gia thủ. Cửa thứ ba do sinh viên giữ. Còn cửa thứ tư là do Phật giáo thủ. Phá từng cửa một, và với chiến thuật khác nhau, ấy gọi là đánh xí mứng”)}.
Xí ngù (hay ngầu) lác (TC) 四 五 六 = 4, 5, 6 = hột xúc xắc có 6 cạnh, mỗi cạnh có ghi bằng nút từ 1 đ ến 6, thường là 3 hột, dùng trong việc đánh bài.
Xì dầu 豉 油 = nước tương, còn gọi tàu vị yểu.
Xì thẩu 事 頭 = ông chủ (HV: sự đầu).
Xìn xầm “báo chí tập” = trò chơi “bao” (bàn tay xè ra), “kéo” (hai ngón trỏ và giữa, banh ra như cái kéo) và “búa” (tay nắm lại như cái búa) giữa hai hoặc ba người để phân định hơn thua về một ý kiến gì.
Người ta cũng gọi nó là trò chơi “thùng một, thùng hai, thùng ba, ra cái gì ra cái nầy”. Sau câu nói đó, những tham dự viên sẽ đưa tay của mình ra theo một trong ba hình dáng “bao, kéo, hay búa” nói trên. Trong trò chơi nầy, “tay xè” thua “cái kéo”, “cái kéo” thua “cái búa” và “cái búa” thua “tay xè”.
Một số người VN còn dùng tiếng Việt gốc Ăng lê để gọi trò chơi nầy là trò chơi “oảnh tù tì (English: one, two, three) ra cái gì ra cái nầy”.
Xiên xáo hay xương xáo 仙草 (TC) = thạch đen, một loại thức ăn chế biến từ thực vật; QĐ gọi nó là lường phảnh 涼 粉 = bột mát.
Xín xái (TC) = sao cũng được; xín xái bò lái bò khự (TC) = bỏ qua đi, sao cũng được mà, tính đại khái cho xong.
Xính xáng 先 生 (QĐ và QT đọc gần giống nhau) = ông, thầy hay cô giáo, chồng (tiếng xưng hô). HV: tiên sinh.
Xíu dục hay roast pork = thịt heo quay.
Xíu mại 燒 買, HV: thiêu mãi = thức ăn sáng bằng thịt heo, chi tiết ở phần ăn uống.
Xỉu phé = cà phê (ly) nhỏ.
Xò = khờ khạo, ngu; xò chảy = thằng nhỏ khờ, ngu.
Xuận xủi xuận phong 順 水 順 風 = thuận gió thuận nước; đây là câu chúc cho một người hay nhiều người sắp đi xa.
(VN ta cũng có câu chúc thuận buồm xuôi gió. Phải công bình mà nói, câu chúc của Tàu hợp lý hơn của ta vì gió và hướng nước chảy là hai yếu tố chánh làm cho việc đi ghe thuyền được nhanh chóng. Nếu thuận buồm xuôi gió mà gặp giòng nước ngược thì chắc chắn là không đi nhanh được rồi. Có lẽ câu “thuận gió thuận nước” nghe không êm tai bằng câu “thuận buồm xuôi gió” nên chúng ta xài câu sau chăng? Trong ca dao VN có câu:
Giòng xuôi ngọn gió càng to
Lá buồm càng lớn chiếc đò càng nhanh.
Hai câu nầy rõ ràng là thuận nước thuận gió rồi.
Xủi 水 = nước; quảnh xủi = nước sôi, pín xủi = nước đá lạnh.
Xủi cảo = bánh nước, giống như hoành thánh nhưng to hơn, ngoài thịt heo bằm ra, thường có tôm, và nấm mèo, dùng làm nhân, và có hình bánh quai vạc của VN.
Xực phàn = ăn cơm, (HV: thực phạn).
Xường xám長 釤 = áo dài (đàn bà), kiểu Thượng Hải, tay ngắn, hoặc dài, hai vạt trước và sau như áo dài VN nhưng bó sát gần chân, có xẻ hai bên từ hông xuống hết chiều dài của áo. Đây là một kiểu áo trông rất “sexy”. (HV: trường sám).
Yến引 (TC) = 10 cân = 6 ki-lô ; đơn vị đo lường (trọng lượng) ngày xưa.
Nguyễn Hữu Phước, tháng 8, 2015
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách:
Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Đặng Chí Huyển, nhà xuất bản Giáo Dục, 1984
Hán Văn Giải Tự chữ Nho và Khoa Học, Tạ Quang Phát, Đại Nam xuất bản, 19??
Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Thiện, Hội Ngôn Ngữ Học Việt Nam, 1994
Thành Ngữ – Cách Ngôn gốc Hán, Nguyễn Văn Ba, nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1998
Tiếng Việt Tàu, TS Nguyễn Hữu Phước, tài liệu khoá Tu Nghiệp Sư Phạm, Nam California, 2015
Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn, Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Viện Việt Học, USA, 2009
Tự Điển Hán Việt Hán Ngữ Cổ Đại và Hiện Đại, Trần Văn Chánh, nhà xuất bản Trẻ, Việt Nam, 2000
Từ Điển Hán Việt Hiện Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Lý Chính, Phan Ngọc Hạnh, Nguyễn Kim Thản, Khương Ngọc Toàn, nhà xuất bản Thế Giới, Việt Nam, 1994
Từ Điển Văn Học Việt Nam, Trần Văn Kiệm, 2007
Từ Vựng gốc Hán trong Tiếng Việt, Lê Đình Khẩn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Việt Nam, 2002
Văn Pháp Chữ Hán, Phạm Tất Đắc, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1996
Internet:
Chinese Character Dictionary: http://www.mandarintools.com
English-Chinese Dictionary (online): https://www.google.com/search?q=english+chinese+dictionary
Nôm and Sino-Vietnamese Pronunciation Guide Fourth Edition Copyright © 2004 by Anthony Trần Văn Kiệm (internet: http://www.nomfoundation.org/nom-tools/Nom-Dictionary
NỘI DUNG ĐỀ TÀI 7
ĐỌC CHỮ CÁI

Tiểu sử

Phạm-Văn-Hải, PhD

TRƯỜNG ĐÃ THEO HỌC:
Trung-học:
Dũng-Lạc, Hà-nội
Hồ-Ngọc-Cẩn, Sài-gòn
Hồ Ngọc Cẩn, Gia-định
Chu Văn An, Sài-gòn.
Đại-học:
Trường Khoa-học và Trường Văn-Khoa, Sài-gòn
Trường Ngữ-học và Ngôn-ngữ, Viện Đại-học Georgetown, Washington, DC.

SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN:
• Quốc-văn – Lớp Ðệ Tứ (1966)
• Quốc-văn – Lớp Ðệ Nhị (1970)
• Ðối-chiếu Tiếng Hán-Việt và Tiếng Bắc-kinh (1967)
• Vần tiếng Việt (1976)
• Ảnh-hưởng Trung-hoa trong tiếng Việt (1976)
• The influence of T’ang Poetry into Vietnamese Poetry Written in Nôm Characters and in Quốc-ngữ Writing and in Vietnamese Writing System (1980)
• Sách Vỡ Lòng (1981)
• Sơ-lược về Thể Lục-bát (1994)
• Ðàn Bà (1994)
• Ði Tìm Một Ðường Lối Viết Truyện Ngắn (1994)
• Thơ Tình (1995)
• [Vietnamese I – For College Students] (1996)
• Tiếng Việt II – Dành cho Sinh-viên Ðại-học
• [Vietnamese II – For College Students], 1997
• Tiếng Việt III – Dành cho Sinh-viên Ðại-học
• [Vietnamese III – For College Students], 1997
• Tiếng Việt IV – Dành cho Sinh-viên Ðại-học
• [Vietnamese IV – For College Students], 1998
• Viết Lại Truyện Ðời Xưa: Mưu-trí Ðàn Bà (1997)
• Tiếng Kèm (1998)
• Chữ Hán và tiếng Hán-Việt (2004) …